Điều 35. Ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư
1. Nhà đầu tư phải có đủ chứng khoán khi thực hiện giao dịch bán chứng khoán theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Thông tư số 120/2020/TT-BTC; có đủ mức tiền ký quỹ bù trừ ban đầu khi thực hiện giao dịch mua chứng khoán theo yêu cầu của thành viên bù trừ.
2. Thành viên bù trừ tự đánh giá và quyết định mức tiền ký quỹ bù trừ ban đầu đối với giao dịch mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của nhà đầu tư sau:
a) Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức;
b) Công ty chứng khoán (áp dụng đối với giao dịch tự doanh của công ty chứng khoán), công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (áp dụng đối với giao dịch của chính công ty quản lý quỹ), công ty đầu tư chứng khoán, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được cấp phép thành lập, hoạt động tại Việt Nam.
3. Nhà đầu tư phải có đủ mức tiền ký quỹ bù trừ ban đầu là 100% giá trị giao dịch mua chứng khoán dự kiến thực hiện ngoại trừ giao dịch ký quỹ theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 120/2020/TT-BTC đối với giao dịch sau:
a) Giao dịch mua chứng quyền có bảo đảm;
b) Giao dịch mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của nhà đầu tư không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Nhà đầu tư phải duy trì ký quỹ bù trừ cho các giao dịch chưa hoàn tất thanh toán và phải bổ sung tài sản ký quỹ bù trừ trong trường hợp giá trị tài sản ký quỹ bù trừ thấp hơn giá trị ký quỹ bù trừ yêu cầu. Tùy vào điều kiện thị trường, thành viên bù trừ có quyền yêu cầu nhà đầu tư bổ sung ký quỹ bù trừ ngay trong phiên giao dịch. Mức ký quỹ bù trừ cần bổ sung và thời hạn bổ sung ký quỹ bù trừ thực hiện theo quy định của thành viên bù trừ.
5. Trường hợp nhà đầu tư quy định tại khoản 2 Điều này vi phạm quy định về ký quỹ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán theo quy định tại Thông tư này, quy định của thành viên bù trừ, thành viên bù trừ phải đảm bảo việc thực hiện ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư được thực hiện như sau:
a) Nhà đầu tư phải ký quỹ bù trừ ban đầu là 100% giá trị giao dịch mua chứng khoán dự kiến thực hiện trong thời hạn 07 ngày giao dịch liên tục kể từ ngày nhà đầu tư vi phạm;
b) Trong vòng 30 ngày giao dịch liên tục, nhà đầu tư có ngày phát sinh vi phạm lần thứ ba, nhà đầu tư phải ký quỹ bù trừ ban đầu là 100% giá trị giao dịch mua chứng khoán dự kiến trong thời hạn 180 ngày liên tục kể từ ngày nhà đầu tư phát sinh vi phạm lần thứ ba;
c) Ngay trong ngày nhà đầu tư vi phạm, thành viên bù trừ có trách nhiệm báo cáo Công ty Bù trừ Chứng khoán Việt Nam để Công ty Bù trừ Chứng khoán Việt Nam thông báo cho các thành viên bù trừ, ngân hàng lưu ký thanh toán giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ ký quỹ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư.
6. Nhà đầu tư được rút bớt tiền ký quỹ bù trừ hoặc giải tỏa một phần tiền ký quỹ bù trừ đã phong tỏa nếu giá trị tài sản ký quỹ bù trừ vượt quá giá trị ký quỹ bù trừ yêu cầu do thành viên bù trừ xác định.
7. Tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư được thành viên bù trừ, ngân hàng lưu ký thanh toán quản lý như sau:
a) Thành viên bù trừ là công ty chứng khoán quản lý tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư trên tài khoản tiền gửi đứng tên công ty chứng khoán tại ngân hàng thương mại;
b) Thành viên bù trừ là ngân hàng lưu ký được quản lý tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư trên tài khoản tiền gửi ký quỹ bù trừ đứng tên ngân hàng lưu ký tại chính ngân hàng lưu ký hoặc quản lý tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư trên tài khoản tiền gửi của nhà đầu tư mở tại ngân hàng lưu ký;
c) Ngân hàng lưu ký thanh toán quản lý tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư trên tài khoản tiền gửi của nhà đầu tư mở tại ngân hàng lưu ký thanh toán.
8. Tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư tại thành viên bù trừ, ngân hàng lưu ký thanh toán thuộc sở hữu của nhà đầu tư, không thuộc sở hữu của thành viên bù trừ, ngân hàng lưu ký thanh toán. Thành viên bù trừ, ngân hàng lưu ký thanh toán chỉ được sử dụng tiền ký quỹ bù trừ của nhà đầu tư theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 38, điểm a khoản 2 Điều 44 Thông tư này.
9. Thành viên bù trừ có thể khai thác thông tin tín dụng của các nhà đầu tư qua Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam theo quy định pháp luật ngân hàng trước khi quyết định mức tiền ký quỹ bù trừ ban đầu đối với nhà đầu tư quy định tại khoản 2 Điều này.