Điều 29. Loại bỏ thanh toán giao dịch của thành viên lưu ký
1. Ngoại trừ giao dịch chứng khoán đã thực hiện sửa lỗi sau giao dịch, xử lý lỗi giao dịch tự doanh, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam có quyền loại bỏ thanh toán các giao dịch chứng khoán sau:
a) Giao dịch bán chứng khoán không có sẵn trên tài khoản giao dịch chứng khoán của thành viên lưu ký, khách hàng của thành viên lưu ký (trừ trường hợp có hướng dẫn của Bộ Tài chính);
b) Giao dịch bán chứng khoán trước thời gian Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam xác nhận hoàn tất thanh toán giao dịch chứng khoán;
c) Giao dịch của thành viên lưu ký hoặc khách hàng của thành viên lưu ký được thực hiện sau khi Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thông báo cho Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam về việc đình chỉ hoạt động thanh toán giao dịch chứng khoán đối với thành viên lưu ký đó;
d) Giao dịch thực hiện đối với mã chứng khoán chưa được chấp nhận bù trừ, thanh toán trên hệ thống tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;
đ) Giao dịch có số hiệu tài khoản không hợp lệ do số đăng ký thành viên lưu ký hoặc ký tự loại tài khoản giao dịch chứng khoán không tồn tại;
e) Giao dịch có các thông tin không hợp lệ gồm: không có mã phiên giao dịch; ngày giao dịch khác ngày hiện tại; không có số hiệu lệnh bên mua hoặc bên bán; giá, khối lượng giao dịch nhỏ hơn hoặc bằng không; không có số xác nhận lệnh;
g) Giao dịch có tổ hợp thông tin mã thị trường, mã bảng giao dịch, mã chứng khoán, số xác nhận lệnh trùng với giao dịch đã nhận trước đó;
h) Giao dịch bị loại bỏ thanh toán theo quy định tại các khoản 3, 4 Điều 24 Thông tư này;
i) Giao dịch thiếu chứng khoán, trong đó số chứng khoán thiếu được xác định tại ngày thanh toán là chứng khoán đang trong thời gian tạm ngừng giao dịch để thực hiện chuyển nơi giao dịch; chứng khoán có ngày thanh toán là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền dẫn tới thay đổi giá tham chiếu; chứng khoán đã bị hủy niêm yết, hủy đăng ký giao dịch;
k) Giao dịch lùi thời hạn thanh toán nhưng hết thời hạn lùi thanh toán vẫn không đủ chứng khoán để thanh toán;
l) Giao dịch thiếu chứng khoán trong đó chứng khoán thiếu thuộc loại chứng khoán không được vay và cho vay theo quy chế của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;
m) Giao dịch mua chứng khoán mà Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam không nhận được xác nhận phong tỏa tiền từ ngân hàng thanh toán, ngân hàng lưu ký theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 24 Thông tư này và quy chế của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam.
2. Đối với các trường hợp loại bỏ quy định tại các điểm a, b, c, h, i, k, l, m khoản 1 Điều này, thành viên lưu ký có giao dịch bị loại bỏ thanh toán phải bồi thường cho tổ chức, cá nhân có giao dịch đối ứng liên quan theo thỏa thuận giữa các bên (ngoại trừ trường hợp ngân hàng lưu ký có giao dịch mua cổ phiếu không yêu cầu có đủ tiền khi đặt lệnh bị loại bỏ thanh toán do công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư đặt lệnh không có đủ tiền để phong tỏa, ngân hàng thanh toán không gửi xác nhận phong tỏa theo quy định tại các khoản 4, 6 Điều 24 Thông tư này).
3. Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Sở giao dịch chứng khoán các giao dịch bị loại bỏ thanh toán.