vanban.org

Điều 84. Xử lý các tình huống bất thường trong khi bay — Thông tư 47/2026/TT-BXD

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Xây dựng Ban hành 30/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 47/2026/TT-BXD › Phần III › Chương VII › Mục 1 › Tiểu mục 1 › Điều 84
Đọc toàn văn

Điều 84. Xử lý các tình huống bất thường trong khi bay

1. Trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu đối với tàu bay bay lạc hoặc không nhận dạng được:

a) Tàu bay bay lạc là tàu bay đã bay chệch đáng kể so với kế hoạch bay dự kiến hoặc thông báo rằng tàu bay đang bị lạc;

b) Tàu bay không được nhận dạng là tàu bay được quan sát hoặc được báo cáo đang hoạt động trong một khu vực nhất định nhưng chưa xác định được nhận dạng;

c) Một tàu bay có thể đồng thời được coi là tàu bay bay lạc đối với cơ sở này và là tàu bay không được nhận dạng đối với cơ sở khác;

d) Ngay khi nhận biết có tàu bay bay lạc, cơ sở ATS phải thực hiện các biện pháp hỗ trợ và bảo đảm an toàn cho chuyến bay, đặc biệt trong trường hợp tàu bay có nguy cơ đi vào khu vực bị bay chặn hoặc các khu vực cấm, hạn chế, nguy hiểm. Trường hợp chưa xác định được vị trí tàu bay, cơ sở ATS phải nỗ lực thiết lập liên lạc hai chiều, sử dụng mọi phương tiện để xác định vị trí, thông báo cho các cơ sở ATS khác mà tàu bay có thể bay vào và các đơn vị quân sự liên quan; đồng thời yêu cầu các cơ quan, đơn vị này cùng các tàu bay khác hỗ trợ thiết lập liên lạc và xác định vị trí tàu bay;

đ) Khi đã xác định được vị trí tàu bay bay lạc, cơ sở ATS phải thông báo cho người lái về vị trí và hành động khắc phục cần thực hiện; cung cấp thông tin và các khuyến cáo đã đưa ra cho tàu bay đó cho các cơ sở ATS khác và đơn vị quân sự liên quan khi cần thiết;

e) Ngay khi nhận biết có tàu bay không nhận dạng được trong khu vực trách nhiệm, cơ sở ATS phải nỗ lực xác định nhận dạng tàu bay bằng các biện pháp:

Thiết lập liên lạc hai chiều;

Liên hệ và yêu cầu hỗ trợ từ các cơ sở ATS trong cùng FIR hoặc FIR lân cận;

Thu thập thông tin từ các tàu bay khác trong khu vực;

Ngay khi xác định được nhận dạng tàu bay, phải thông báo cho đơn vị quân sự liên quan;

g) Trường hợp nghi ngờ tàu bay bay lạc hoặc không được nhận dạng là đối tượng của hành vi can thiệp bất hợp pháp, cơ sở ATS phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ Về hoạt động bay.

2. Trách nhiệm của cơ sở ATS đối với việc bay chặn tàu bay dân dụng:

a) Ngay khi biết có tàu bay đang bị bay chặn trong khu vực trách nhiệm của mình, cơ sở ATS phải nỗ lực thiết lập liên lạc hai chiều qua mọi phương tiện sẵn có, bao gồm tần số vô tuyến khẩn nguy 121.5 MHz và thông báo cho người lái của tàu bay bị bay chặn về tình trạng này;

b) Thiết lập liên lạc với Cơ quan quản lý vùng trời, quản lý điều hành bay thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, phối hợp chặt chẽ để thực hiện mọi biện pháp bảo đảm an toàn cho tàu bay bị bay chặn và cung cấp các thông tin sẵn có liên quan đến tàu bay đó;

c) Chuyển tiếp các điện văn giữa tàu bay bay chặn hoặc cơ quan Quản lý vùng trời, quản lý điều hành bay với tàu bay bị bay chặn khi cần thiết;

d) Thông báo cho các cơ sở ATS cung cấp dịch vụ tại các FIR lân cận nếu nhận thấy tàu bay đã bay lạc từ các FIR đó;

đ) Trường hợp nhận biết tàu bay bị bay chặn nằm ngoài khu vực trách nhiệm, cơ sở ATS phải thông báo và cung cấp thông tin sẵn có cho cơ sở ATS tại vùng trời nơi diễn ra việc bay chặn nhằm hỗ trợ nhận dạng tàu bay và yêu cầu cơ sở này thực hiện các biện pháp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này; đồng thời tham gia chuyển tiếp điện văn giữa tàu bay bị bay chặn và cơ sở ATS thích hợp, cơ quan Quản lý vùng trời, quản lý điều hành bay hoặc tàu bay bay chặn.