vanban.org

Điều 306. Trách nhiệm của người chỉ huy tàu bay — Thông tư 47/2026/TT-BXD

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Xây dựng Ban hành 30/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 47/2026/TT-BXD › Phần III › Chương XVI › Mục 2 › Điều 306
Đọc toàn văn

Điều 306. Trách nhiệm của người chỉ huy tàu bay

1. Khi người chỉ huy tàu bay trong quá trình bay quan sát thấy một tàu bay hoặc phương tiện mặt nước khác đang trong tình trạng nguy hiểm, phải thực hiện các biện pháp ứng phó sau đây (trừ trường hợp bất khả kháng hoặc xét thấy không hợp lý, không cần thiết):

a) Duy trì tiếp tục quan sát phương tiện gặp nạn cho đến khi buộc phải rời khỏi hiện trường do giới hạn an toàn bay hoặc khi được Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không liên quan thông báo không cần tiếp tục;

b) Xác định chính xác hoặc ước tính vị trí của tàu bay gặp nạn (xác định và biểu thị bằng một hoặc các hình thức sau: Tọa độ địa lý; tọa độ lưới; khoảng cách và phương vị thực tính từ một địa vật, mốc địa hình dễ nhận biết hoặc từ đài dẫn đường vô tuyến vô hướng/hữu hướng liên quan);

c) Chấp hành và thực hiện nghiêm túc theo các chỉ dẫn, yêu cầu điều hành của cơ sở SAR hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu thích hợp;

d) Kịp thời báo cáo cho cơ sở SAR hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu thông tin chi tiết thu thập được tại hiện trường, bao gồm: Loại phương tiện gặp nạn; dấu hiệu nhận biết và tình trạng tổn thất của phương tiện;       Thời điểm quan sát (giờ và phút theo giờ chuẩn quốc tế UTC); Số lượng người được quan sát thấy và tình trạng thể chất của người sống sót; Việc người trên phương tiện đã rời bỏ phương tiện gặp nạn hay chưa; Các tín hiệu cấp cứu nhận được hoặc quan sát được, bao gồm cả tín hiệu từ các thiết bị phát tín hiệu nguy nạn, phao báo nạn (distress beacon); Điều kiện thời tiết thực tế tại khu vực hiện trường tai nạn; Xác định và báo cáo tuyến tiếp cận mặt đất thuận lợi nhất tới hiện trường tai nạn; Vị trí, đặc điểm nhận dạng của các phương tiện khác trong khu vực có khả năng tham gia hỗ trợ cứu nạn.

2. Trường hợp tàu bay đầu tiên đến hiện trường không phải là tàu bay tìm kiếm, cứu nạn thì tàu bay đó đảm nhiệm việc điều phối hoạt động trên không của các tàu bay đến sau cho đến khi tàu bay tìm kiếm, cứu nạn đầu tiên đến hiện trường. Nếu trong thời gian đó tàu bay này không thiết lập được liên lạc với trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu thì theo thỏa thuận chung, bàn giao nhiệm vụ cho một tàu bay có khả năng thiết lập và duy trì liên lạc cho đến khi tàu bay tìm kiếm, cứu nạn đầu tiên đến.

3. Khi cần chuyển thông tin cho người sống sót hoặc các đơn vị cứu nạn trên mặt đất, mặt nước mà không có liên lạc hai chiều, tàu bay phải thả thiết bị liên lạc cho phép thiết lập liên hệ trực tiếp hoặc chuyển thông tin bằng cách thả bản tin, nếu khả thi.

4. Khi quan sát thấy tín hiệu trên mặt đất, tàu bay phải báo hiệu đã hiểu hoặc chưa hiểu tín hiệu bằng phương thức nêu tại khoản 3 Điều này hoặc nếu không thực hiện được, bằng tín hiệu trực quan phù hợp.

5. Khi cần chỉ dẫn phương tiện trên mặt nước đến nơi có tàu bay hoặc phương tiện đang lâm nạn, tàu bay phải truyền chỉ dẫn chính xác bằng mọi phương tiện sẵn có; trường hợp không thiết lập được liên lạc vô tuyến thì phát tín hiệu trực quan phù hợp.