Điều 22. Hủy bỏ giấy phép, giấy chứng nhận, năng định, văn bản phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận
1. Hủy bỏ là biện pháp làm mất hiệu lực pháp lý của giấy phép, giấy chứng nhận, năng định, văn bản phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận khi việc cấp, phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận được xác định dựa trên hồ sơ, tài liệu, dữ liệu gian lận, giả mạo, không trung thực hoặc trái quy định của pháp luật.
2. Nhà chức trách hàng không Việt Nam hủy bỏ giấy phép, giấy chứng nhận, năng định, văn bản phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận trong các trường hợp sau đây:
a) Gian lận, giả mạo hoặc cố ý cung cấp thông tin sai sự thật trong hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận;
b) Sử dụng giấy tờ, tài liệu, chứng chỉ, kết quả kiểm tra, kết quả huấn luyện, kết quả đánh giá hoặc dữ liệu kỹ thuật không hợp pháp để được cấp, phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận;
c) Việc cấp, phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận được thực hiện trên cơ sở thông tin không đúng bản chất làm thay đổi điều kiện cấp hoặc điều kiện duy trì hiệu lực;
d) Có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm làm căn cứ hủy bỏ.
3. Quyết định hủy bỏ phải xác định rõ thời điểm mất hiệu lực của giấy phép, giấy chứng nhận, năng định, văn bản phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc chấm dứt hoạt động, thông báo cho các bên liên quan, khắc phục hậu quả và cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước.
4. Tổ chức, cá nhân có giấy phép, giấy chứng nhận, năng định, văn bản phê chuẩn, chấp thuận hoặc công nhận bị hủy bỏ chỉ được xem xét cấp lại khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định và đã khắc phục hậu quả của hành vi vi phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.