Điều 221. Các bộ dữ liệu địa hình
1. Bộ dữ liệu địa hình phải thể hiện dạng dữ liệu số của bề mặt địa hình dưới dạng các giá trị mức cao liên tục tại tất cả các điểm giao nhau của một lưới xác định, được tham chiếu đến một mốc tham chiếu chung.
2. Dữ liệu địa hình phải được thiết lập cho Khu vực 1.
3. Đối với các sân bay thường xuyên có hoạt động hàng không dân dụng, dữ liệu địa hình phải được thiết lập cho:
a) Khu vực 2a;
b) Khu vực tuyến bay cất cánh; và
c) Khu vực bao quanh các bề mặt chướng ngại vật của sân bay.
4. Đối với các sân bay thường xuyên có hoạt động hàng không dân dụng, dữ liệu địa hình cần được thiết lập cho Khu vực 2 như sau:
a) Khu vực mở rộng đến 10 km cách điểm quy chiếu sân bay;
b) Ngoài khu vực nêu trên mở ra hết phạm vi Khu vực 2 đối với địa hình xâm phạm bề mặt thu thập dữ liệu địa hình nằm ngang ở 120m cao hơn mức cao của đường cất hạ cánh thấp nhất.
5. Cần có các biện pháp thiết lập dữ liệu địa hình cho các sân bay liền kề sao cho phạm vi vùng chồng lấn phải đảm bảo dữ liệu địa hình được chính xác.
6. Đối với các sân bay nằm gần biên giới lãnh thổ quốc gia, cần có sự thỏa thuận giữa các quốc gia liên quan để chia sẻ dữ liệu địa hình.
7. Đối với các sân bay thường xuyên có hoạt động hàng không dân dụng, dữ liệu địa hình phải được thiết lập cho Khu vực 3.
8. Đối với các sân bay thường xuyên có hoạt động hàng không dân dụng, dữ liệu địa hình phải được thiết lập cho Khu vực 4 của tất cả các đường CHC khai thác tiếp cận chính xác CAT II hoặc III hoặc khi có nhu cầu về dữ liệu địa hình chi tiết để có thể đánh giá ảnh hưởng của địa hình đến việc xác định chiều cao quyết định bằng cách sử dụng phương pháp đo chiều cao vô tuyến.
9. Minh họa các bề mặt thu thập dữ liệu địa hình tại Phụ lục XVI của Thông tư này.