Điều 32. Xử lý tồn tại
1. Xử lý tồn tại trong công tác thu, nộp tiền sử dụng đất
a) Các trường hợp đã nộp đủ tiền sử dụng đất ghi trong Thông báo nộp tiền của cơ quan Thuế trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành mà sau ngày Quy định này có hiệu lực thi hành mới cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không phải nộp thêm tiền sử dụng đất theo Qui định này.
b) Trường hợp đã được Nhà nước giao đất trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành, mà sau ngày Quy định này có hiệu lực thi hành mới nộp tiền sử dụng đất thì phải nộp theo Qui định này.
c) Các trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành mà thuộc các trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 trở về sau, phải nộp tiền sử dụng đất mà còn nợ và ghi rõ số tiền nợ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất theo số tiền ghi nợ đó.
Trường hợp không ghi rõ số tiền sử dụng đất còn nợ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tính thu tiền sử dụng đất theo Qui định này.
d) Các trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở hoặc đang sử dụng đất ở được xét cấp Giấy chứng nhận nhưng người sử dụng đất có khó khăn về tài chính thì cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận xem xét và quyết định việc cho ghi nợ tiền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận. Số tiền sử dụng đất ghi nợ được tính theo giá đất tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.
Khi hộ gia đình, cá nhân thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất (chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất), tặng cho quyền sử dụng đất đối với người ngoài diện thừa kế theo qui định của pháp luật (trừ trường hợp qui định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật Đất đai) hoặc được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất thì phải nộp cho Nhà nước số tiền còn nợ.
Các giao dịch về quyền sử dụng đất đối với đất có Giấy chứng nhận còn ghi nợ tiền phải nộp cho Nhà nước đều không có giá trị pháp lý.
2. Xử lý tồn tại trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
a) Các trường hợp hồ sơ đã lập theo Qui định ban hành kèm theo Quyết định số 168/2005/QĐ-UBND ngày 17/5/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh nhưng đến ngày Qui định này có hiệu lực thi hành mà chưa được tiếp nhận tại phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố, thị xã hoặc các hồ sơ đã được tiếp nhận từ trước ngày Qui định này có hiệu lực thi hành nhưng hồ sơ lập không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải lập lại hồ sơ và thực hiện phù hợp với Qui định này;
b) Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường thống kê chi tiết các trường hợp theo xã, phường, thị trấn mà hồ sơ đã tiếp nhận và đang giải quyết tại đơn vị tính đến thời điểm Qui định này có hiệu lực thi hành, báo cáo về Sở Tài nguyên và Môi trường chậm nhất sau 20 ngày kể từ ngày Qui định ngày có hiệu lực thi hành để theo dõi và kiểm tra việc thực hiện.
3. Xử lý tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất
a) Các trường hợp bị thu hồi đất mà diện tích đất ở có vườn, ao đã xác định theo Qui định ban hành kèm theo Quyết định số 168/2005/QĐ-UBND ngày 17/5/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh để bồi thường, hỗ trợ, phương án bồi thường, hỗ trợ đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Qui định này có hiệu lực thi hành, thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ diện tích đất ở có vườn, ao theo phương án đã được phê duyệt;
b) Các trường hợp bị thu hồi đất mà đến trước ngày Qui định này có hiệu lực thi hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất, thì đối với những trường hợp đã xác định diện tích đất ở có vườn, ao theo hạn mức ban hành tại Quyết định số 168/2005/QĐ-UBND, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập lại phương án bồi thường, hỗ trợ đất ở có vườn, ao theo Qui định này, trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện.