Điều 96. (QCHK-KT3.510). Hạ cánh
1. Người khai thác phải đảm bảo:
a) Trọng lượng hạ cánh của trực thăng tại thời điểm dự định hạ cánh không vượt quá trọng lượng tối đa quy định trong HFM, phần tính năng hạng A đối với độ cao khí áp và nhiệt độ bên ngoài dự tính trong thời điểm dự định hạ cánh tại sân bay đến hoặc sân bay dự bị nếu yêu cầu (Xem tài liệu hướng dẫn thực hiện và giải thích của Cục HKVN (GT của QCHK-KT3.490 (1) (a) và QCHK-KT 3.510(1)(a));
b) Đối với sân bay trực thăng có mức cao bằng bề mặt xung quanh, trong trường hợp một động cơ hỏng tại bất kỳ điểm nào trong giai đoạn tiếp cận và hạ cánh, trọng lượng hạ cánh phải ở mức có thể cho phép:
i) Trường hợp một động cơ hỏng tại hoặc trước điểm quyết định hạ cánh (LDP), đình chỉ hạ cánh, bay vượt tất cả các chướng ngại vật trên quỹ đạo bay; và
ii) Trường hợp một động cơ hỏng tại hoặc sau LDP, hạ cánh và dừng hẳn trong cự li hạ cánh công bố tại sân bay.
c) Đối với sân bay trực thăng mức cao và sàn cất hạ cánh trực thăng, trọng lượng hạ cánh không được vượt quá trọng lượng hạ cánh tối đa được phê chuẩn cho phương thức hạ cánh đang sử dụng, và trực thăng có khả năng:
i) Trường hợp một động cơ hỏng tại hoặc trước điểm quyết định hạ cánh (LDP), đình chỉ hạ cánh, bay vượt sân bay mức cao hoặc sàn cất hạ cánh trực thăng, sau đó vượt tất cả các chướng ngại vật trên quỹ đạo bay (Xem tài liệu hướng dẫn thực hiện và giải thích của Cục HKVN (GT của QCHK-KT 3.510(1)(c)(i));
ii) Trường hợp một động cơ hỏng tại hoặc sau LDP, tiếp tục hạ cánh trên sân bay mức cao hoặc sàn cất hạ cánh trực thăng.
2. Ngoài quy định tại khoản 1 Điều này, người khai thác phải chú ý các thông số sau tại sân bay đến hoặc sân bay dự bị của trực thăng vào thời điểm dự tính hạ cánh:
a) Độ cao khí áp;
b) Nhiệt độ không khí bên ngoài;
c) Phương thức hạ cánh sử dụng;
d) Không quá 50% thành phần gió ngược theo dự báo;
đ) Bất kỳ thay đổi dự tính nào về trọng lượng của trực thăng trong chuyến bay.
3. Phần hạ cánh từ điểm quyết định hạ cánh đến điểm tiếp đất phải được tiến hành khi nhìn thấy mặt đất.