Điều 94. (QCHK-KT3.495). Quỹ đạo cất cánh
1. Người khai thác phải đảm bảo trong trường hợp một động cơ hỏng tại điểm quyết định cất cánh thì quỹ đạo cất cánh với một động cơ hỏng cách các chướng ngại vật với mức cao không ít hơn 10m(35ft) khi bay theo quy tắc bay bằng mắt, và tối thiểu là 10m(35ft) cộng với 0,01DR khi bay theo quy tắc bay bằng thiết bị. Không cần phải chú ý đến chướng ngại vật nếu cự li từ điểm gần nhất của chướng ngại vật dưới quỹ đạo cất cánh dự kiến vượt quá 30m hoặc 1,5 lần chiều dài của trực thăng, chọn giá trị lớn hơn, cộng với:
a) 0,15DR đối với khai thác theo quy tắc bay bằng mắt;
b) 0,30DR đối với khai thác theo quy tắc bay bằng thiết bị.
2. Khi tuân thủ khoản 1 Điều này:
a) Không tính đến chướng ngại vật khi chúng nằm ở cự li lớn hơn:
i) 7R đối với khai thác ban ngày nếu đảm bảo độ chính xác dẫn đường bằng vật chuẩn quan sát được bằng mắt khi lấy độ cao;
ii) 10R đối với khai thác ban đêm nếu đảm bảo độ chính xác dẫn đường bằng vật chuẩn quan sát được bằng mắt khi lấy độ cao;
iii) 300m nếu độ chính xác dẫn đường có thể đạt được bằng các thiết bị dẫn đường trợ giúp;
iv) 900m trong các trường hợp khác.
b) Khi thay đổi hướng bay hơn 15°, độ cao vượt chướng ngại vật phải tăng lên 5m (15ft) tính từ điểm bắt đầu đổi hướng. Việc đổi hướng không được bắt đầu trước khi đạt đến độ cao 30m (100ft) so với bề mặt cất cánh.
3. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, người khai thác phải chú ý các thông số sau tại sân bay cất cánh của trực thăng:
a) Trọng lượng của trực thăng tại thời điểm bắt đầu cất cánh;
b) Độ cao khí áp;
c) Nhiệt độ không khí bên ngoài;
d) Không quá 50% thành phần gió ngược theo dự báo khi lập kế hoạch bay hoặc, trường hợp không được cung cấp các thông số này, không ít hơn 150% thành phần gió xuôi theo dự báo. Việc thay đổi thành phần gió cho một địa điểm cụ thể có thể được Cục HKVN phê chuẩn (Xem tài liệu hướng dẫn thực hiện và giải thích của Cục HKVN (GT của QCHK-KT 3.490 (2)(d)).