Điều 74. Hủy tài liệu mật
1. Loại tài liệu mật thuộc diện hủy
a) Chỉ được hủy các loại tài liệu đã hết mọi giá trị sử dụng, tài liệu trùng thừa, các bản in hỏng;
b) Sổ sách ghi chép mật đã dùng hết mà không cần theo dõi thêm; tài liệu thu về trùng thừa;
c) Sổ sách đăng ký nghiệp vụ của các ngành sau 20 năm.
2. Phương thức hủy
a) Tài liệu “Mật” bằng giấy được phép bán cho cơ sở sản xuất giấy, nhưng phải nghiền hoặc xén nhỏ đến mức không thể phục hồi lại được;
b) Tài liệu “Tối mật”, “Tuyệt mật” bằng giấy phải đốt tại chỗ hoặc nghiền, xén nhỏ tại chỗ bằng thiết bị phù hợp (nếu có điều kiện) đến mức không thể phục hồi lại được trước khi bán cho cơ sở sản xuất giấy;
c) Các tài liệu mang tin khác phải xóa bỏ hết thông tin hoặc làm biến dạng đến mức không thể phục hồi lại được nữa.
3. Thủ tục hủy tài liệu
a) Cơ quan Bảo mật lưu trữ từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên mới được hủy tài liệu, sau khi đã được cấp có thẩm quyền quyết định; đối với tài liệu lưu trữ, phải thông qua Hội đồng xác định giá trị tài liệu;
b) Khi hủy tài liệu phải lập biên bản, có thống kê đầy đủ đối với tài liệu “Tối mật”, “Tuyệt mật” trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nội dung biên bản nói rõ phương thức hủy và người thực hiện, có chữ ký xác nhận của các thành viên. Biên bản hủy tài liệu lưu ở cơ quan Bảo mật 20 năm, kể từ ngày hủy;
c) Khi hủy tài liệu phải do một tổ gồm ít nhất hai người trở lên thực hiện, trong đó có nhân viên Bảo mật;
đ) Trường hợp đặc biệt, phải hủy tài liệu ngay để giữ bí mật thì người nắm giữ bí mật được quyền tự hủy, nhưng sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người chỉ huy và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã hủy tài liệu đó.