Điều 64. Xác định độ mật
1. Trách nhiệm xác định độ mật cho văn bản, tài liệu
a) Người soạn thảo văn bản có trách nhiệm đề xuất độ mật, độ khẩn, phạm vi phổ biến với người ký văn bản; nếu văn bản là Mật ghi chữ “M”, Tối mật là “TM”, Tuyệt mật là “TuM” vào cuối phần “nơi nhận” của văn bản;
b) Người ký văn bản có trách nhiệm xem xét, quyết định độ mật, độ khẩn, phạm vi ban hành của văn bản, tài liệu;
c) Bảo mật lưu trữ các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm rà soát, kiểm tra giúp người ký văn bản đóng dấu mức độ mật, độ khẩn và phạm vi phổ biến trước khi phát hành. Trường hợp văn bản đã có chữ ký của người có thẩm quyền mà chưa xác định đúng độ mật thì cơ quan Bảo mật lưu trữ phải báo cáo người ký để xem xét quyết định.
2. Căn cứ xác định độ mật cho văn bản, tài liệu
a) Căn cứ vào nội dung, tính cấp thiết của tài liệu và đối chiếu với danh mục bí mật để dự kiến độ mật của tài liệu;
b) Mức độ tác hại nếu tài liệu bị lộ;
c) Phạm vi và mức độ phổ biến của tài liệu.