Điều 10. Thẩm quyền ký văn bản
1. Cơ quan, đơn vị thực hiện theo chế độ thủ trưởng
a) Chỉ huy trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, đơn vị ban hành. Chỉ huy trưởng cơ quan, đơn vị có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của Chỉ huy trưởng, cấp phó ký thay phải chịu trách nhiệm trước Chỉ huy trưởng cơ quan, đơn vị và trước pháp luật.
b) Chính ủy, Chính trị viên các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ký các văn bản về công tác đảng, công tác chính trị. Chính ủy, Chính trị viên có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Cấp phó ký thay phải chịu trách nhiệm trước Chính ủy, Chính trị viên cơ quan, đơn vị và trước pháp luật.
c) Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Chính trị viên các cơ quan, đơn vị có thể ủy quyền cho chỉ huy một số đơn vị trực thuộc ký thừa ủy quyền (TUQ.) hoặc ký thừa lệnh (TL.) một số loại văn bản. Việc giao ký thừa ủy quyền hoặc ký thừa lệnh phải được quy định cụ thể trong quy chế hoạt động hoặc quy định về công tác Văn thư của cơ quan, đơn vị. Người được ký thừa ủy quyền hoặc ký thừa lệnh không được ủy quyền lại cho người khác ký. Văn bản ký thừa ủy quyền (hoặc ký thừa lệnh) theo thể thức và được đóng dấu của cơ quan, đơn vị ủy quyền.
2. Cơ quan, đơn vị thực hiện theo chế độ tập thể: Lãnh đạo cơ quan, đơn vị thay mặt (TM.) tập thể ký các văn bản của cơ quan, đơn vị ban hành, cấp phó và các thành viên giữ chức vụ lãnh đạo khác được thay mặt tập thể, ký thay những văn bản theo ủy quyền của lãnh đạo và các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.
3. Người ký văn bản phải ký đúng quyền hạn và chịu trách nhiệm về những văn bản do mình ký. Chữ ký trong văn bản phải đúng với mẫu chữ ký đã đăng ký; không dùng bút chì, mực đỏ hoặc các loại mực dễ phai để ký văn bản.