vanban.org

Điều 66. Biên bản. — Bộ luật Tố tụng hình sự số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2004 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2000 Thay thế: 19/2003/QH11 · 26/11/2003 Sửa đổi, bổ sung: 20/2000/QH10 · 09/06/2000
Quốc hội Ban hành 28/06/1988 Hiệu lực 01/01/1989 Hết hiệu lực toàn bộ 7 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời bộ luật · 12 phiên bản · 69 năm
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 · 19/2003/QH11
Sắc luật số 002/SLT Quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang 1957 · 002/SLT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Bộ luật Không số › Điều 66
Đọc toàn văn

Điều 66. Biên bản.

1- Người thihành lệnh bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản.

Biên bảnphải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việcđã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệubị tạm giữ và những khiếu nại của người bị bắt.

Biên bảnphải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, ngườithi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản, nếu ai cóý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biênbản và ký tên.

Việc tạm giữđồ vật của người bị bắt phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.

2- Khi giaovà nhận người bị bắt, hai bên bàn giao và nhận phải lập biên bản.

Ngoài nhữngđiểm đã quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việcbàn giao các biên bản lấy lời khai, đồ vật đã thu thập được, tình trạng sứckhoẻ của người bị bắt và mọi tình tiết xảy ra lúc giao nhận.