Điều 121. Kê biêntài sản.
1- Việc kêbiên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quyđịnh có thể tịch thu tài sản hoặc phạt tiền cũng như đối với người phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Những ngườicó thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật này có quyền ra lệnh kê biêntài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 62Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
2- Chỉ kêbiên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thườngthiệt hại.
Tài sản bịkê biên được giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân của họ bảo quản. Người đượcgiao bảo quản mà có hành vi chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tàisản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 244 Bộ luật hình sự.
3- Khi tiếnhành kê biên tài sản, phải có mặt đương sự hoặc người đã thành niên trong giađình, đại diện chính quyền xã, phường hoặc thị trấn và người láng giềng chứngkiến. Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từngtài sản bị kê biên. Biên bản phải lập theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này,đọc cho đương sự và những người có mặt nghe và cùng ký tên. Những khiếu nại củađương sự được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiếnhành kê biên.
Biên bản kêbiên được lập thành ba bản: một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biênxong; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
4- Khi xétthấy việc kê biên không còn cần thiết thì người có thẩm quyền quy định tạikhoản 1 Điều này phải kịp thời ra quyết định huỷ bỏ lệnh kê biên.