vanban.org

Điều 196. Nghị án. — Bộ luật Tố tụng hình sự số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2004 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2000 Thay thế: 19/2003/QH11 · 26/11/2003 Sửa đổi, bổ sung: 20/2000/QH10 · 09/06/2000
Quốc hội Ban hành 28/06/1988 Hiệu lực 01/01/1989 Hết hiệu lực toàn bộ 7 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời bộ luật · 12 phiên bản · 69 năm
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 · 19/2003/QH11
Sắc luật số 002/SLT Quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang 1957 · 002/SLT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Bộ luật Không số › Điều 196
Đọc toàn văn

Điều 196. Nghị án.

1- Chỉ cóthẩm phán và hội thẩm nhân dân mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hộiđồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyếttheo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiếnthiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được để vào hồ sơ.

2- Trong trườnghợp kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giảiquyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này. Nếucó căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố vô tội; nếuthấy việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiếnnghị với Viện kiểm sát cấp trên.

3- Khi nghịán, chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiêntoà.

4- Khi nghịán phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồngxét xử.