Điều 21. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả, hỗ trợ mai táng:
1. Bồi thường mồ mả:
Mức bồi thường được tính cho các khoản chi phí về đào, bốc, di chuyển, vật liệu để xây dựng lại mộ và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp ( đơn giá bồi thường tại Phụ lục số 1). Riêng đối với mồ mả của đồng bào các dân tộc ở khu vực miền núi nếu có kết cấu xây dựng riêng ( không có trong bảng đơn giá bồi thường ) thì giá bồi thường được tính theo từng dự án cụ thể; Hội đồng Bồi thường có trách nhiệm phối hợp Nhà đầu tư, các ngành có liên quan kiểm tra, đề xuất và đưa vào phương án bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp mộ xây có quy mô lớn, sử dụng vật liệu xây dựng đắt tiền; trang trí, đắp, vẽ công phu; giao Hội đồng Bồi thường có trách nhiệm phối hợp với Nhà đầu tư kiểm tra, đo đạc thành quách khuôn viên của ngôi mộ và xác định giá trị để tính bồi thường.
2. Hỗ trợ di chuyển, mai táng:
2.1.Đối với mộ mai táng dưới 02 năm được hỗ trợ: 3.000.000đồng/mộ; từ 02 đến 03 năm: 2.000.000đ/mộ. Căn cứ giấy chứng tử để xác định thời gian mai táng.
2.2. Đối với các hộ gia đình trong vùng dự án bị giải toả thu hồi đất, có người chết trong khi đang lập phương án bồi thường hoặc đang chi trả tiền bồi thường, nhưng không thể mai táng tại các nghiã địa xã, phường hiện đang cư trú ( nghĩa địa này cũng thực hiện di dời ), mà phải tổ chức mai táng vào các khu nghĩa địa tập trung ngoài phạm vi của xã, phường thì được hỗ trợ 1.500.000 đồng/trường hợp.
2.3. Hỗ trợ thêm chi phí di chuyển mộ cải táng vào các khu quy hoạch nghĩa địa tập trung ngoài phạm vi xã, phường hiện đang cư trú: 200.000đ/mộ.
2.4.Trường hợp hài cốt phải di chuyển qua sông bằng ghe, thuyền ... thì được hỗ trợ thêm 200.000đ/mộ.