Điều 16. Bồi thường về nhà, vật kiến trúc, công trình kết cấu hạ tầng và các loại tài sản khác gắn liền với đất.
1. Đối với nhà ở, vật kiến trúc, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng ( 100% ) theo giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành.
Giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình được tính theo diện tích xây dựng ( hoặc diện tích sử dụng ) của nhà ở, công trình nhân với ( x ) đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình. Đơn giá bồi thường tại Phụ lục số 1 kèm theo Quy định này.
2. Đối với nhà, vật kiến trúc, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được tính bồi thường theo công thức sau:
| Giá trị bồi thường nhà, công trình, vật kiến trúc | = | Tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của nhà, công trình, vật kiến trúc | x | Đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình, vật kiến trúc | x | Diện tích xây dựng hoặc diện tích sử dụng; khối lượng của công trình, vật kiến trúc |
Được cộng thêm là 10% giá trị hiện có của nhà, công trình nhưng mức bồi thường và hỗ trợ tối đa không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại. Đơn giá bồi thường tại Phụ lục số 1 kèm theo Quy định này. Việc xác định tỷ lệ phần trăm ( % ) chất lượng còn lại của nhà ở, công trình, vật kiến trúc do Tổ chức được giao việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện, đồng thời có sự tham gia của Nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về xây dựng tại địa phương. Đối với các tài sản quy định tại khoản 2 trên đây nhưng thực tế không sử dụng hoặc không còn sử dụng được thì không bồi thường.
3. Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành. Nếu công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật mà không còn sử dụng được hoặc thực tế không sử dụng thì không được bồi thường.
4. Đối với nhà ở, công trình xây dựng bị phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được ( phần công trình phá dỡ tính cả phần bị chấn động đến tường cuối cùng bằng hoặc nhỏ hơn 3,5 mét) thì được bồi thường cho toàn bộ ngôi nhà, công trình đó.
5. Đối với nhà ở, công trình xây dựng bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được:
5.1.Trường hợp nhà ở, công trình đó vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn, kỹ thuật tương đương của nhà ở, công trình trước khi bị phá dỡ.
5.2. Trường hợp nhà ở, công trình bị phá dỡ một phần, nhưng phần diện tích còn lại có cấu trúc làm ảnh hưởng đến mỹ quan của ngôi nhà, công trình ( như cầu thang, công trình phụ...) phải phá dỡ để xây dựng lại, thì được bồi thường toàn bộ chi phí, vật liệu để xây dựng lại phần cầu thang, công trình phụ đó.
6. Các công trình là nhà thờ, chùa, đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ tộc, nhà làng truyền thống, nhà sinh hoạt thôn, khối phố … gắn liền với đất bị thu hồi, nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Trường hợp những công trình này có trang trí nội thất, sử dụng vật liệu đắt tiền; Hội đồng Bồi thường phối hợp với Nhà đầu tư, các đơn vị liên quan kiểm tra cụ thể và tính bồi thường thêm phần vật liệu, trang trí, tô vẽ theo thực tế.
7. Đối với nhà ở, vật kiến trúc ( trừ nhà ở, vật kiến trúc làm bằng gỗ, ván ghép, tranh, tre, nứa, lá ) thuộc khu vực miền núi, hải đảo thì đơn giá xây dựng được nhân với hệ số như sau:
7.1. Hệ số 1,4: áp dụng cho khu vực có hệ số phụ cấp 0,7.
7.2. Hệ số 1,3: áp dụng cho khu vực có hệ số phụ cấp 0,5 và 0,4.
7.3. Hệ số 1,2: áp dụng cho khu vực có hệ số phụ cấp 0,3 và 0,2.
7.4. Hệ số 1,1: áp dụng cho khu vực có hệ số phụ cấp 0,1.