vanban.org

Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp. — Quyết định 55/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quảng Nam Ban hành 15/12/2006 Hiệu lực 01/01/2007 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 55/2006/QĐ-UBND › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp.

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng hạng, cùng mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Khi bồi thường bằng việc giao đất mới, thì tuỳ vào thực tế quỹ đất tại địa phương mà mức giao đất mới cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không vượt quá diện tích đất thu hồi và không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của UBND tỉnh.

1.1. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi, thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch đó.

1.2. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có hạng đất và giá đất cao hơn hạng đất và giá đất bị thu hồi, thì được bồi thường bằng việc giao đất mới với diện tích tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi.

1.3. Bồi thường 100% tiền sử dụng đất nông nghiệp cho các trường hợp quy định tại Điều 8 của Quy định này và đất nông nghiệp đăng ký theo Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ( đất không có tranh chấp, không phải đất thuê ) được sử dụng liên tục nhưng chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay được UBND cấp xã xác nhận thì được bồi thường theo diện tích đăng ký.

1.4. Hỗ trợ bằng tiền đối với đất nông nghiệp đang sử dụng do tự khai hoang nhưng không theo quy hoạch được phê duyệt, được sử dụng liên tục, không có tranh chấp, nay được UBND cấp xã xác nhận thì hỗ trợ như sau:

1.4.1. Sử dụng trước ngày 15/10/1993: 100%.

1.4.2. Sử dụng sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004: 50%.

1.4.3. Sử dụng từ ngày 01/7/2004 đến thời điểm thu hồi đất : 30%

1.4.5- Đất do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng, cho được UBND cấp xã xác nhận thì hỗ trợ theo giấy tờ của người chuyển nhượng, kế thừa, cho, tặng

1.5. Trường hợp diện tích đất nông nghiệp sử dụng trên thực tế lớn hơn diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc trên các giấy tờ chuyển nhượng, thừa kế, cho, tặng thì thực hiện theo quy định tại tiết 1.4.1, 1.4.2 và 1.4.3 khoản 1.4 nêu trên. Giao Hội đồng Bồi thường kiểm tra, đề xuất trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.

2. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng đất vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:

2.1. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thì được bồi thường.

2.2. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm 2.1 nêu trên thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản ( không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định như sau:

3.1. Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa theo giá đất nông nghiệp cùng hạng tại khu vực đang sử dụng đất, theo diện tích đất thực tế bị thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của UBND tỉnh; giao Hội đồng Bồi thường cấp huyện hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất phối hợp với Nhà đầu tư và đơn vị có liên quan kiểm tra, thẩm định trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.

3.2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại điểm 3.1 nêu trên, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

3.3. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

4. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 7, Chương II của Quy định này; nếu là hộ gia đình, cá nhân có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện huyện xem xét giao đất mới phù hợp với điều kiện quỹ đất nông nghiệp tại địa phương.

5. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường đất. Trường hợp chưa giao đất sử dụng ổn định lâu dài thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

6. Đối với đất nuôi trồng thủy sản, nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 trên đây, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường theo giá đất do UBND tỉnh công bố hằng năm. Trường hợp hồ, ao nuôi trồng thuỷ sản có đắp bờ bao với mặt cắt ngang phía trên từ 01 mét trở lên, thì được hỗ trợ 30.000đ/m3 đất đào, đắp cho phần từ 01 mét trở lên.

7. Trường hợp đất thu hồi là đất sản xuất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, thì không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

8. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư đô thị ( nhưng không nằm trong thửa đất ở ) phải là thửa đất nằm trong khu dân cư quy hoạch và có ít nhất 03 mặt tiếp giáp khu dân cư hoặc thửa đất có 02 mặt tiếp giáp với khu dân cư, 01 mặt tiếp giáp đường giao thông ( đường trong đô thị ) thì được bồi thường theo gía đất nông nghiệp cùng hạng tại vị trí đó và được hỗ trợ thêm bằng tiền, mức tối đa là 20% với giá đất ở liền kề, nhưng mức bồi thường và hỗ trợ cho 01m2 đất nông nghiệp xen kẽ không vượt quá giá đất ở liền kề.