Điều 20. Bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng, con vật nuôi ( thuỷ sản ):
1. Mức bồi thường đối với cây trồng thu hoạch theo mùa, vụ, hàng năm đơn giá bồi thường theo Phụ lục số 2 kèm theo Quy định này.
1.1. Đối với đất nông nghiệp có trồng xen nhiều loại cây khác nhau thì bồi thường cho loại cây trồng được xác định là cây trồng chính vụ ( diện tích chiếm đất trên 50% ) và hỗ trợ 50% cho cây trồng xen và chỉ tính hỗ trợ cho 01 loại cây trồng xen.
1.2. Đối với các loại cây trồng ngắn ngày như lương thực, hoa, rau màu... trồng xen trong các vườn cây chuyên canh ( cây ăn quả, cây lâu năm trồng năm thứ 1, thứ 2 ) trước thời điểm thông báo kiểm kê, được hỗ trợ bằng 50% theo đơn giá cây của loại cây trồng xen và chỉ hỗ trợ cho 01 loại cây trồng xen.
2. Đối với cây trồng chuyên canh, rừng trồng, cây lâu năm ( bao gồm cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây rừng trồng... trồng thành vườn, rừng, trồng theo trang trại ), Chủ dự án chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngành có liên quan xác định giá trị của từng loại cây để tính bồi thường, trên cơ sở đơn giá tại Phụ lục số 2 theo nguyên tắc sau:
2.1. Cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản, thì giá trị hiện có của vườn cây là toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
2.2. Cây lâu năm loại thu hoạch một lần ( cây lấy gỗ ) đang ở trong thời kỳ thu hoạch thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường bằng ( = ) Tổng giá trị đầu tư trừ ( - ) giá trị thu hồi.
2.3. Cây lâu năm, loại thu hoạch nhiều lần ( cây ăn quả, cây lấy dầu, nhựa...) đang ở trong thời kỳ thu hoạch, thì giá trị hiện có của vườn cây được tính bồi thường là giá bán vườn cây tại thời điểm bồi thường trừ ( - ) giá trị thu hồi.
2.4. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
2.5. Các loại cây lâu năm đến thời hạn thanh lý, cây lấy gỗ đến thời kỳ thu hoạch thì không bồi thường nhưng được hỗ trợ chi phí chặt hạ.
3. Các loại cây lấy củi, lấy gỗ, cây lâu năm, cây ăn trái... không thuộc khoản 2 Điều này, thì áp dụng theo đơn giá tại Phụ lục số 2 để tính bồi thường; riêng cây tái sinh lần thứ 1 ( dương liễu, bạch đàn....) được hỗ trợ bằng 50% đơn giá cây cùng loại theo số cây tái sinh thực tế nhưng tối đa không quá 03 cây trên cùng 01 gốc; cây tái sinh từ lần thứ 2 trở đi, cây mọc hoang không bồi thường, nhưng được hỗ trợ tiền công cho người chặt hạ.
4. Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, chi phí trồng lại, nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục số 2.
5. Đối với con vật nuôi thủy sản:
5.1. Để giảm thiểu thiệt hại trong việc nuôi trồng thuỷ sản cho nhân dân khi Nhà nước thu hồi đất, giao Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng, Ban Quản lý dự án, Chủ đầu tư có trách nhiệm thông báo trước cho nhân dân được biết ít nhất là 90 ngày để có kế hoạch thu hồi sản phẩm và ngừng việc nuôi trồng tiếp theo; trường hợp này Nhà nước không bồi thường, tuy nhiên có xem xét hỗ trợ một phần thu nhập, mức hỗ trợ theo quy định tại Phụ lục số 3.
5.2. Trường hợp do yêu cầu của dự án phải thu hồi đất sớm hơn thời gian quy định trên đây, thì thực hiện bồi thường theo quy định tại Phụ lục số 3.
6. Riêng đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân chăn nuôi gia súc, gia cầm ( chăn nuôi tập trung ) bị thu hồi đất phải di chuyển chuồng, trại làm ảnh hưởng sản lượng trứng; trọng lượng tăng trưởng; hao hụt con vật nuôi; vận chuyển chuồng trại, dụng cụ, vật dụng, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể Hội đồng Bồi thường phối hợp với Nhà đầu tư xác định mức hỗ trợ.