Điều 51. Xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai
1. Người nào có một trong các hành vi vi phạm sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:
a) Vi phạm các quy định tại Điều 100 của Luật Khiếu nại, tố cáo;
b) Không chấp hành nội quy tiếp công dân của cơ quan, đơn vị, gây rối trật tự nơi tiếp công dân, có cử chỉ, lời nói thô bạo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cán bộ tiếp công dân dù đã được hướng dẫn, nhắc nhở;
c) Tập trung đông người tại các công sở, nơi công cộng trái quy định của pháp luật;
d) Gây ồn ào, lớn tiếng, làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức nơi tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai;
đ) Có cử chỉ, lời nói, hành vi, ăn mặc thô tục, thiếu văn hóa tại nơi tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai;
e) Đưa hối lộ cho người thi hành công vụ;
g) Vi phạm các quy định khác có liên quan.
2. Người tiếp công dân, người giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai có quyền:
a) Lập biên bản đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc xử lý theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan Công an địa phương có trách nhiệm căn cứ vào biên bản và yêu cầu của người tiếp công dân, người giải quyết khiếu nại, tố cáo xử lý theo thẩm quyền; thông báo kết quả xử lý cho người có yêu cầu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
b) Yêu cầu cơ quan Công an lập biên bản đối với người có hành vi vi phạm các quy định tại điểm b, c, d, e, g khoản 1 Điều này để xử lý.
Cơ quan Công an địa phương có trách nhiệm phối hợp kịp thời để lập hồ sơ xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật và thông báo cho người có yêu cầu biết kết quả xử lý.