vanban.org

Điều 8. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại — Quyết định 20/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2014 Thay thế: 18/2014/QĐ-UBND · 30/09/2014
Vĩnh Long Ban hành 05/11/2009 Hiệu lực 15/11/2009 Hết hiệu lực toàn bộ 2 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 5 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 34/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 34/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 18/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 20/2009/QĐ-UBND Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế và trách nhiệm giải quyết các công việc cho tổ chức, công dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 20/2009/QĐ-UBND
15/11/2009Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 06/2007/QĐ-UBND Ban hành ''Quy định về trình tự thủ tục, trách nhiệm giải quyết công việc cho tổ chức, công dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 06/2007/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 20/2009/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại

1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng của đất bị thu hồi được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định ban hành và công bố theo luật định. Không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; không bồi thường theo giá đất do thực tế sử dụng đất, không phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

            Trường hợp giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư báo cáo hội đồng thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định giá đất cụ thể để tính bồi thường cho phù hợp. Việc xác định giá đất để Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định giá đất tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường, được thực hiện theo phương pháp xác định giá đất quy định tại Nghị định số 7859/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất, Nghị định số 123/2007/NĐ-CP, ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 7859/2004/NĐ-CP, ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 7859/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 7859/2004/NĐ-CP và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất.

2. Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau:

a. Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra (có biên bản xác định cụ thể), mà giá đất tại thời điểm thực hiện bồi thường do Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì được bồi thường theo giá đất tại thời điểm thực hiện bồi thường. Nếu giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

b. Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra (có biên bản xác định cụ thể), nếu giá đất tại thời điểm thực hiện bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm thực hiện bồi thường. Nếu giá đất tại thời điểm thực hiện bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

3. Chi phí hợp lý đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải có hồ sơ, chứng từ, thực tế chứng minh.

Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng (=) tổng chi phí thực tế hợp lý tính thành tiền đã đầu tư vào đất trừ (-) đi số tiền đầu tư phân bổ cho thời gian đã sử dụng đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:

a. Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền);

b. Các khoản chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất được giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất mà đã được bồi thường về đất thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất.

c. Các khoản chi phí khác có liên quan, do tổ chức được giao làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đề nghị cấp thẩm quyền phê duyệt.

4. Đối với những trường hợp đủ cơ sở xác định thực tế có chi phí đầu tư vào đất, nhưng người sử dụng đất không còn lưu giữ hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất, tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xác định, thông qua Hội đồng thẩm định, tham mưu cấp thẩm quyền quyết định, cho phù hợp với thực tế tại địa phương.