Điều 13. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở
1. Trường hợp diện tích đất ở còn lại sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn sử dụng đất theo đúng quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn.
a. Đối với các hộ có nhà ở, mà sau khi thực hiện đền bù giải toả, nếu diện tích đất còn lại nhỏ hơn 15m2, có chiều rộng mặt tiền hoặc chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3m, thì không được phép xây dựng (quy định tại điểm a, Mục 2, Điều 3, của Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg ngày 28/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thi hành Điều 121 của Luật Xây dựng). Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện kiểm kê, áp giá bồi thường và thu hồi luôn diện tích đất trên, để bàn giao cho Chủ đầu tư xây dựng dự án.
b. Đối với các hộ có đất ở, mà sau khi thực hiện đền bù giải toả, nếu diện tích đất còn lại nhỏ hơn 36m2, có chiều rộng mặt tiền hoặc chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nhỏ hơn 3m, thì không được phép xây dựng (Quyết định số 04/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ Xây dựng). Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện kiểm kê, áp giá bồi thường và thu hồi luôn diện tích đất trên, để bàn giao cho Chủ đầu tư xây dựng dự án.
2. Người sử dụng đất ở, khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác, thì được xem xét như sau:
a. Đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì được xem xét giao đất ở mới và phải trả nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
b. Đối với hộ gia đình, cá nhân ở đô thị thì được xem xét cho mua nhà hoặc thuê nhà và phải trả tiền mua nhà, thuê nhà, nộp tiền sử dụng đất theo quy định.