Điều 50. Công bố, thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Trong thời hạn không quá 05 ngày, kể từ ngày có quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất của UBND cấp thẩm quyền, cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định sau:
a. Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất liên quan từ hai quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên;
b. Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a, khoản này;
2. Trong thời hạn không quá ba (03) ngày kể từ ngày có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm bàn giao mốc giới hiện trường cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
3. Trong thời gian không quá ba (03) ngày kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, trong đó nêu rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, về bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thời gian bàn giao đất đã bị thu hồi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Thành phần tham gia cuộc họp công bố phương án cho nhân dân tại địa phương, bao gồm:
- Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất;
- Trưởng ấp, khóm;
- Nhân dân địa phương khu vực thu hồi đất;
- Đại diện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể có liên quan và Hội cựu chiến binh của địa phương tham dự họp ngay từ đầu và xuyên suốt trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
4. Trong thời gian không quá sáu mươi (60) ngày kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư.
a. Khi chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất, người có đất bị thu hồi có trách nhiệm:
- Xuất trình quyết định phê duyệt giá trị bồi thường, hỗ trợ trong lần chi trả đầu tiên. Trường hợp người được nhận bồi thường uỷ quyền cho người khác nhận tiền bồi thường, thì người được bồi thường phải làm đẩy đủ thủ tục uỷ quyền theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 của quy định này.
- Nộp (bản gốc) giấy tờ về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (nếu có) cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng để chuyển cho cơ quan tài nguyên và môi trường làm thủ tục thu hồi giấy hoặc cấp giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất không bị thu hồi;
- Bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng, việc bàn giao đất phải lập thành biên bản có xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi.
b. Trường hợp người được bồi thường không nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư kết hợp với UBND cấp xã tiến hành lập biên bản, danh sách những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức không nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi kết thúc khâu bồi thường. Biên bản và danh sách được niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và gửi đến các tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn huyện, thành phố; đồng thời Phòng (Sở) Tài nguyên và môi trường thông báo cho người có đất bị thu hồi phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường đã gửi thông báo trong vòng mười (10) ngày. Kết thúc thời gian niêm yết, danh sách và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu hồi (nếu có) được chuyển về cho Phòng (Sở) Tài nguyên và môi trường thực hiện việc chỉnh lý, thu hồi. Trường hợp hết thời hạn quy định mà người sử dụng đất không thực hiện việc nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì cơ quan Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và UBND xã, phường, thị trấn biết về việc huỷ bỏ tính pháp lý của các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đồng thời thông báo đến Sở Tài nguyên và Môi trường, để báo cáo.
c. Khi chi trả tiền bồi thường cho người bị thu hồi đất, bị thiệt hại về tài sản phải lập đầy đủ chứng từ thanh toán và có ký nhận của người được bồi thường, hỗ trợ hoặc người được uỷ quyền.
d. Toàn bộ chứng từ liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lưu giữ và quản lý theo quy định hiện hành.
5. Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng bàn giao đất đã được giải phóng mặt bằng cho chủ đầu tư theo quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất để chủ đầu tư triển khai dự án.
Trường hợp việc bồi thường được thực hiện theo tiến độ thì chủ đầu tư được nhận bàn giao phần diện tích mặt bằng đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ để triển khai dự án.
6. Trường hợp chủ đầu tư và những người bị thu hồi đất đã thỏa thuận bằng văn bản thống nhất về phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hoặc khu đất thu hồi không phải giải phóng mặt bằng thì UBND cấp có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.