Điều 39. Khai thác rừng trồng.
1. Đối với rừng do Nhà nước đầu tư được phép khai thác cây phù trợ, tỉa thưa rừng có mật độ dày. Cường độ khai thác không qụá 20% và đảm bảơ độ tàn che khi khai thác tỉa thưa là lớn hơn hoặc bằng 0,6. Khi rừng khép tán được phép khai thác cây phù trợ, nhưng phải đảm bảo cây trồng chính còn ít nhất là 600 cây/ha, nếu không đủ phải để lại cây phù trợ theo quy định của cây trồng chính.
Khi cây trồng chính đạt tuổi khai thác, thì hàng năm được phép khai thác chọn với cường độ không quá 20% hoạc chặt trắng theo bằng, theo đám nhỏ với diện tích dưới l ha đối với rừng phòng hộ xung yếu và dưới 0,5 ha đối với rừng phòng hộ rất xung yếu, nhưng không vượt quá l/10 diện tích đã trồng thành rừng và phải trồng lại rừng ngay sau vụ kế tiếp.
2. Đối với rừng trồng do ban quản lý hoặc chủ nhận khoán tự đầu tư, khi rừng đạt tuổi khai thác, mỗi năm được phép khai thác không quá l/10 diện tích do chủ rừng đã đầu tư gây trồng thành rừng. Phương thức chặt theo băng hoặc theo đám, băng hoặc đám không được liền kề nhau, có diện tích không quá 1/10 ha ở vùng rất xung yếu và không quá 2 ha ở vùng xung yếu và phải trồng lại rừng ngay sau vụ kế tiếp:
3. Chỉ tiêu khai thác: tuổi khai thác và lập hồ sơ thiết kế khai thác thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 28.
4. Thủ tục trình duyệt: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn duyệt hổ sơ và cấp phép khai thác.