Điều 18. Thủ tục trình duyệt và ra quyết định mở rừng khai thác.
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp và phê duyệt hồ sơ tổng hợp cho toàn tỉnh sau đó lập tờ trình báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh trong tháng 11 của năm trước.
2. Căn cứ hồ sơ tổng hợp và tờ trình của Sở, Uỷ ban Nhân dân tỉnh có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định hồ sơ thiết kế khai thác chậm nhất vào ngày 15/12 của năm trước theo các chỉ tiêu quy định tại Điều 17.
3. Thẩm định hồ sơ thiết kế khai thác cho các địa phương.
4. Quyết định mở rừng:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quyết định mở rừng khai thác cho từng tỉnh và toàn quốc vào tháng l kèm theo phụ lục chi tiết diện tích, địa danh, sản lượng, được phép khai thác.
5. Cấp phép khai thác.
Trên cơ sở quyết định mở rừng khai thác của Bộ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy phép khai thác trực tiếp cho từng chủ rừng theo lô và theo từng đợt khi chủ rừng hoàn thành khai thác các lô đã cấp phép mới tiến hành cấp phép cho các lô tiếp theo và tổ chức kiểm tra, theo dõi quá trình thực hiện (không cấp phép cho đơn vị khai thác). Nếu khai thác chưa hết diện tích mà đủ sản lượng ghi trong giấy phép khai thác thì không cấp phép khai thác cho các diện tích còn lại. Diện tích để lại không khai thác nếu tập trung một lô hay một phần lô (từ l/2 lô trở lên) được phép đưa vào kế hoạch khai thác của năm sau.
6. Nếu do điều kiện khách quan phải thay đổi địa danh khai thác so với quyết định mở rừng của Bộ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có văn bản trình Bộ xin thay đổi địa danh và kèm theo hồ sơ thiết kế khai thác của địa danh mới để Bộ xem xét quyết định.
Quyết định mở rừng của Bộ và giấy phép khai thác được gời cho Chi cục Kiểm lâm và địa phương sở tại để làm căn cứ kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện .