Điều 19. Những quy định trong quá trình khai thác.
l. Điều kiện để tổ chức khai thác: Sau khi có giấy phép khai thác, chủ rừng mới được tiến hành tổ chức khai thác.
2. Các hình thức tổ chức khai thác: Chủ rừng được quyền chủ động tổ chức khai thác theo đúng nội dung giấy phép khai thác của Sở và quyết định mở rừng của Bộ theo các hình thức sau:
a. Tổ chức đấu thầu bán cây đứng theo các quy định hiện hành.
b. Tổ chức đấu thầu khai thác
c. Tự tổ chức khai thác (giao cho các đơn vị trực thuộc tự khai thác).
3. Giao nhận khu khai thác: chủ rừng bàn giao hồ sơ và hiện trường cho đơn vị khai thác và lập biên bản theo các nội dung sau
a. Hồ sơ thiết kế khai thác được duyệt theo đúng quyết định mở rừng của Bộ, giấy phép khai thác, bản đồ khu khai thác, phiếu bài cây.
b. Ranh giới khu khai thác theo lô, khoảnh, tiểu khu hệ thống cọc mốc, dấu búa bài cây; tổng số cây bài chặt, sản lượng gỗ lớn được phép khai thác, tỷ lệ lợi dụng gỗ và sản lượng gỗ tận dụng phải thực hiện; mạng lưới đường vận xuất, vận chuyển, địa điểm kho bãi gỗ dự kiến mở.
Hồ sơ và biên bản bàn giao được gửi l bộ cho hạt kiểm lâm sở tại để giám sát việc thực hiện.
4. Chuẩn bị khai thác. Trước khi khai thác, đơn vị khai thác phải tiến hành các công việc sau:
a. Phát luỗng rừng toàn diện hay cục bộ (trừ rừng khộp) để đảm bảo an toàn cho quá trình khai thác
b. Làm mới, sửa chữa đường vận xuất, vận chuyển và kho bãi gỗ trong khu khai thác. Trường hợp phải thay đổi tuyến đường vận xuất, vận chuyển, bãi gỗ so với hồ sơ thiết kế khai thác được duyệt, chủ rừng báo cáo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra xác nhận, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập tờ trình xin thay đổi và bổ sung sản lượng gỗ tận dụng trên đường vận xuất, vận chuyển để Bộ xem xét, quyết định.
5. Khai thác thực hiện theo các quy định sau
a. Khai thác phải đúng địa danh cho phép.
b. Chặt hạ đúng những cây đã có dấu bài chặt và khai thác phải tập trung dứt điểm từng lô và phải chặt hết tối thiểu là 90% số cây có dấu búa bài chặt trong lô.
c. Khi khai thác hết lô chủ rừng phải tổ chức vận xuất ngay ra bãi giao và đo đếm đánh số thứ tự vào đầu lóng gỗ bằng sơn, lập lý lịch của từng lóng theo số thứ tự trên đầu lóng gỗ và tính toán khối lượng gỗ lớn. Đối với những lô cuối cùng trong kế hoạch khai thác hàng năm của chủ rừng, nếu khai thác đã đủ tổng khối lượng gỗ lớn theo quyết định mở rừng cho toàn bộ khu khai thác (không tính riêng cho từng lô, khoảnh tiểu khu) mà chưa hết số cây bài chặt thì phải ngừng ngay việc chặt hạ, số diện tích chưa khai thác được xử lý theo quy định tại Khoản 5 Điều 18. Sai số cho phép giữa tổng khối lượng gỗ lớn do chủ rừng đo đếm với tổng khối lượng gỗ lớn trong hồ sơ thiết kế là ± 10%.
d. Chặt hạ xơng phải tiến hành ngay việc cắt khúc, cắt cành, ngọn; số lóng gỗ phải khớp đúng với số cây bài chặt có dấu búa bài cây.
e. Chiều cao gốc chặt tính từ mặt đất cao nhất được quy định như sau: Chiều cao gốc chặt tối đa không quá 1 lần đường kính của cây gỗ ở vị trí Dl,3
g. Sau khi vận xuất gỗ ra bãi giao, chủ rừng báo với hạt kiểm lẩm sở tại để kiểm tra, xác nhận và đóng búa kiểm 1âm theo quy định hiện hành.
i. Khai thác đúng quy trình kỹ thuật
6. Vệ sinh rừng: Sau khi kết thúc khai thác và vận xuất gỗ ra khỏi lô, chủ rừng phải tiến hành ngay việc chặt những cây đổ, gẫy phát sinh trong quá trình chặt hạ, cây bài thải và vệ sinh rừng. Sản phẩm thu được bổ xung vào khối, lượng gỗ tận dụng trong khai thác chính của chủ rừng. Công tác vệ sinh rừng phải được hoàn thành trong thời hạn khai thác gỗ quy định tại Khoản 8 điều này.
7. Lập biên bản bàn giao rừng sau khai thác giữa chủ rừng với đơn vị khai thác.
8. Thời hạn khai thác: quy định từ ngày 1 tháng 1 đến 31 tháng 3 của năm sau.