Điều 14. Các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu trong thiết kế khai thác
1. Phương thức khai thác
a. Khai thác chọn đối với rừng được quy định tại khoản 1 Điều 12
b. Khai thác trắng hoặc khai thác chọn để chuyển thành rừng không đồng tuổi đối với rừng được quy định tại khoản 2 Điều 12.
2. Luân kỳ khai thác được chia theo các cấp luân kỳ sau:
a. Đối với rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng lá kim, rừng gỗ hỗn loài với tre nứa là 35 năm.
b. Đối với rừng khộp là 40 năm
c. Đối với rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ là 10 năm
3. Cường độ khai thác: Cường độ khai thác được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa trữ lượng các cây bài chặt trong lô với trữ lượng của lô trước khi khai thác và được quy định như sau:
a. Cường độ khai thác không kể chặt bài thải và đổ vỡ.
Đối với rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng lá kim kinh doanh gỗ lớn thì cường độ khai thác thay đổi theo cấp trữ lượng, cụ thể
Cấp trữ lượng từ 91 - 150m3/ha, cường độ từ 18-23%
Cấp trữ lượng từ 151 - 200m3/ha, cường độ từ 24 - 28%
Cấp trữ lượng từ 201 - 300m3/ha, cường độ từ 29 - 33%
Cấp trữ lượng trên 300m3/ha, cường độ từ 34 - 38%
Đối với rừng gỗ hỗn loài tre nứa, cường độ từ 25 - 30%.
Đối với rừng kinh doanh gỗ trự mỏ
Trữ lượng từ 70 - 100m3/ha, cường độ từ 20 - 25%
Trữ lượng trên 100m3/ha, cường độ từ 26 - 30%.
Đối với rừng khộp cường độ khai thác được tăng lên một cấp so với cấp trữ lượng nói trên.
b. Cường độ khai thác nếu bao gồm cả chặt bài thải và đổ vỡ trong khai thác thì được phép tăng lên nhưng không được vượt quá 45% và không được tạo thành các khoảng trống có diện tích trên 1,500m2.
c. Cường độ khai thác theo quy định trên được xác định ở lô khai thác có độ dốc từ 150 trở xuống, còn độ dốc trên 150 thì cường độ khai thác phải giảm xuống như sau:
Cứ độ dốc tăng lên từ 1- 20 thì cường độ khai thác phải giảm 1%.
4. Cấp kính khai thác tối thiểu đối với rừng kinh doanh gỗ lớn:
a. Đối với các tỉnh từ Thanh Hoá trở ra
Gỗ nhóm I và II = 45 cm
Gỗ nhóm III đến nhóm VI = 40 cm
Gỗ nhóm VII và VIII = 30 cm
b. Đối với các tỉnh Từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế
Gỗ nhóm I và II = 50 cm
Gỗ nhóm III đến nhóm VI = 45 cm
Gỗ nhóm VII và VIII = 35 cm
c. Đối với các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào
Gỗ nhóm I và II = 50 cm
Gỗ nhóm III đến nhóm VI = 45 cm
Gỗ nhóm VII và VIII = 40 cm
Riêng cấp kính khai thác tối thiểu đối với rừng lá kim là 40 cm và những cây họ dầu thuộc rừng khợp là 35 cm.
5. Tỷ lệ lợi dụng:
Tỷ lệ lợi dụng được lính theo tỷ lệ phần trăm khối lượng sản phẩm so với khối lượng toàn bộ thân cây (thể tích cây đứng), cụ thể như sau
a. Gỗ lớn là gỗ khúc thân tính từ mạch cắt gốc chặt đến mạch cắt ở chiều cao dưới cành. Tuỳ theo phương tiện vận chuyển mà khúc thân có thể cắt đoạn để kéo ra bàn giao. Đơn vị tính là m3.
b. Gỗ tận dụng: Là phần cành, ngọn có đường kính đầu lớn từ 25 cm trở lên, chiều dài từ 1m trở 1ên và những lóng gỗ khúc thân bị rỗng ruột hết toàn bộ chiều dài lóng gỗ, có đường kính phần rỗng ruột chiếm từ 40-70% đường kính của lóng gỗ. Đơn vị tính là m3.
c. Củi: Là phần cành, ngọn có đường kính đầu lớn nhỏ hơn 25 cm, chiều dài từ 1m trở lên và những lóng gỗ khúc thân bị rỗng ruột hết toàn bộ chiều dài lóng gỗ, có đường kính phần rỗng ruột chiếm trên 70% đường kính của lóng gỗ.
Tuỳ theo đặc tính lơài cây chãt, điều kiện địa hình, cự ly vận chuyển, khả năng tiêu thụ mà tỷ lệ lợi dụng được phép thiết kế trong giới hạn sau:
Gỗ lớn: 60% trở /ên
Gỗ tận dụng 10% trở lên
Củi = 5% trở 1ên
Trong trường hợp có chặt bài thải, vệ sinh rừng, thì khối lượng sản phẩm tận dụng được thống kê riêng trong biểu sản phẩm khai thác và việc đóng búa bài cây theo quy định tại Điều 34 dưới đây.
Đối với những cây chặt hạ trên đường vận xuất, vận chuyển, bãi gỗ nếu đường kính khúc thân ở đoạn gốc từ 25 cm trở lên được tính là gỗ lớn và nhỏ hơn 25 cm được tính vào gỗ tận dụng.
d. Đối với gỗ trụ mỏ tỷ lệ lợi dụng như sau:
Gỗ lớn khúc thân (Ø >25 cm) từ 10 - 15 %
Gỗ trụ mỏ (Ø < 24 cm ) từ 65 - 70%
Củi từ 5% trở lên