Điều 25. Thiết kế tận thu, thủ tục trình duyệt và tận thu.
1. Thiết kế tận thu:
a. Đối với gỗ nằm trên hiện trường khai thác cũ: Tiến hành thu gom ở từng lô tập kết tại đường phân lô, sau đó thống kê cụ thể số lóng, số khúc, số cây số tấm; đo kích thước, tính khối lượng theo chủng loại gỗ cho từng lô, khoảnh, tiểu khu; đóng búa bài cây những lóng, khúc, cây gỗ có đường kính đầu lớn từ 25cm trở lên và các hộp gỗ có chiều dày 10cm trở lên, số còn lại đánh dấu sơn; lập lý lịch những cây, lóng, khúc, hộp có đóng búa bài cây, thống kê ước tính khối lượng đối với số gỗ còn lại
b. Đối với gỗ nằm trên các hiện trường còn lại thì tiến hành thống kê tại chỗ theo trình tự quy định tại điểm a, khoản 1 điều này.
c. Lập hồ sơ tận thu gồm:
Tờ trình của chủ rừng
Các văn bản cho phép tận thu của cấp có thẩm quyền
Biểu chi tiết địa danh, sản lượng, đối tượng, kích cỡ của sản phẩm tận thu.
d. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc uỷ quyền Chi cục Phát triển lâm nghiệp chủ trì cùng chủ rừng tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trường.
2. Thủ tục trình duyệt:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hồ sơ thiết kế và tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định cho phép tận thu đối với gỗ nằm trên đất nông nghiệp quy định tại điểm b Khoản 2,Điều. 24. Đối với gỗ thuộc nhóm IIA quy định tại Nghị định 48/2002/NĐ-CP và đối với gố nằm trên đất lâm nghiệp quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 thì phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định và chấp thuận bằng văn bản.
3. Tổ chức tận thu: Tận thu phải đúng địa điểm, điện tích, đối tượng đã được cấp có thẩm quyền cho phép. Nếu tận thu trong hiện trường khai thác cũ thì không được mở đường mới mà phải lợi dụng đường có sẵn. Nghiêm cấm lợi dụng đưa gỗ nơi khác vào khu vực được phép tận thu.