Điều 17. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất, tài sản thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng và đất khu vực liền kề bị ảnh hưởng bởi dự án
1. Đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, khi Nhà nước thu hồi đất thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này. Trường hợp, Nhà nước không thu hồi đất, mà đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn bị thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất (đối với đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp), ảnh hưởng tài sản gắn liền với đất thì giải quyết như sau:
1.1. Nếu làm thay đổi mục đích sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất, như sau:
a) Từ đất ở sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) hoặc từ đất ở sang đất nông nghiệp thì bồi thường phần chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất phi nông nghiệp; giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp.
b) Từ đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp thì bồi thường phần chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp với giá đất nông nghiệp.
1.2. Không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại), nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất thì được bồi thường theo mức độ thiệt hại thực tế. Mức bồi thường bằng ( = ) diện tích đất bị hạn chế sử dụng nhân ( x ) giá đất trước thời điểm thu hồi nhân ( x ) tỷ lệ (%) thiệt hại do bị hạn chế khả năng sử dung. Giao Tổ chức thực hiện công tác BT, HT & TĐC phối hợp với UBND cấp xã, Nhà đầu tư, cơ quan liên quan kiểm tra và đề xuất tỷ lệ thiệt hại hợp lý, lập thành biên bản, đưa vào phương án bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.3. Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích đất sử dụng có nhà ở, công trình của chủ hộ sử dụng đất thì phần diện tích còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại tiết 1.1 hoặc tiết 1.2, khoản 1, Điều này.
2. Đối với nhà ở, vật kiến trúc, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng phải di dời để giải phóng mặt bằng thì được bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này.
Việc bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản trên đất các công trình lưới điện cao áp, áp dụng theo quy định tại Điều 1, Nghị định số 81/2009/NĐ-CP ngày 12/10/2009 của Chính phủ về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp”.
3. Tổ chức, cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất tạm thời để sử dụng hoặc trong quá trình thi công công trình làm ảnh hưởng, gây thiệt hại về đất, tài sản trên đất tại khu vực liền kề thì có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người đang sử dụng đất như sau:
3.1. Đối với tài sản trên đất là nhà ở, vật kiến trúc, công trình ...bị tháo dỡ thì được bồi thường, hỗ trợ theo Quy định này.
3.2. Đối với cây trồng, con vật nuôi thuỷ sản bồi thường theo quy định tại Điều 24 của Quy định này. Trường hợp, thời gian xây dựng công trình kéo dài ảnh hưởng đến nhiều vụ sản xuất, thì bồi thường cho các vụ bị ngừng sản xuất tiếp theo cho đến khi hoàn trả lại đất, nhưng mức bồi thường không quá sản lượng thu hoạch trong 01 năm.
3.3. Khi công trình hoàn thành thì Nhà đầu tư có trách nhiệm phục hồi lại đất theo hiện trạng ban đầu để hoàn trả. Trường hợp, khi trả lại đất nhưng không thể tiếp tục sử dụng đất theo hiện trạng ban đầu hoặc do điều kiện khách quan nhân dân không thể sử dụng được và có yêu cầu thu hồi đất, thì phải bồi thường thiệt hại về đất theo Quy định này. Kinh phí do Nhà đầu tư chi trả, UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất và giao cho UBND cấp xã quản lý.