vanban.org

Điều 12. Bồi thường đối với đất ở; thửa đất ở có vườn, ao; đất nông nghiệp trong khu dân cư — Quyết định 23/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/07/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 43/2014/QĐ-UBND · 22/12/2014 Sửa đổi, bổ sung: 30/2013/QĐ-UBND · 22/11/2013
Quảng Nam Ban hành 30/09/2010 Hiệu lực 10/10/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 11 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 23/2010/QĐ-UBND
02/12/201330/2013/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 06/07/201314/2013/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 10/10/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Bồi thường đối với đất ở; thửa đất ở có vườn, ao; đất nông nghiệp trong khu dân cư

1. Bồi thường đối với đất ở: Việc xác định đất là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo giá đất ở phải căn cứ theo các giấy tờ có liên quan chứng minh về quyền sử dụng đất ở, thì được bồi thường theo thực tế diện tích đất bị thu hồi.

2. Bồi thường đối với thửa đất ở có vườn, ao:

2.1. Đất vườn, ao được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư.

2.2. Bồi thường diện tích đất vườn, ao sử dụng trước ngày 18/12/1980: Đối với đất vườn, ao được sử dụng trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5, Điều 50 của Luật Đất đai, có xác định rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất của thửa đất này được bồi thường bằng tiền theo giá đất ở. Trường hợp, ranh giới thửa đất không được xác định rõ trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại các khoản 1, 2 và 5, Điều 50 của Luật Đất đai, thì diện tích đất ở được bồi thường bằng tiền theo giá đất ở, với mức tối đa không quá 05 lần (năm lần) hạn mức diện tích giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng bị thu hồi.

2.3. Bồi thường diện tích đất vườn, ao được sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004:

a) Đối với đất vườn, ao được sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 mà người bị thu hồi đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5, Điều 50 của Luật Đất đai, mà trong giấy tờ đó có ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó.

b) Đối với đất vườn, ao được sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004, mà người bị thu hồi đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5, Điều 50 của Luật Đất đai, mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được bồi thường theo hạn mức công nhận đất ở theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình theo qui định của UBND tỉnh về hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất.

2.4. Trường hợp, phần diện tích đất vườn, ao còn lại (nếu có) theo quy định tiết 2.2 và tiết 2.3, khoản 2, Điều này nhưng không được công nhận là đất ở thì được bồi thường theo giá đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở do UBND tỉnh công bố hằng năm. Ngoài ra, còn được hỗ trợ theo qui định tại khoản 1, Điều 30 của Qui định này.

3. Bồi thường đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư: Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trong khu dân cư do UBND tỉnh công bố hằng năm. Ngoài ra, còn được hỗ trợ theo qui định tại khoản 2, Điều 30 của Qui định này