vanban.org

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp — Quyết định 23/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/07/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 43/2014/QĐ-UBND · 22/12/2014 Sửa đổi, bổ sung: 30/2013/QĐ-UBND · 22/11/2013
Quảng Nam Ban hành 30/09/2010 Hiệu lực 10/10/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 11 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 23/2010/QĐ-UBND
02/12/201330/2013/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 06/07/201314/2013/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 10/10/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đang sử dụng đất để trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất trồng rừng sản xuất (kể cả đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài) và đất làm muối trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật; diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức do được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác (có một trong các giấy tờ theo quy định của pháp luật về đất đai) và đất tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thì khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Trường hợp, bồi thường bằng việc giao đất mới, thì tuỳ vào thực tế quỹ đất nông nghiệp tại địa phương mà UBND cấp huyện quyết định mức giao đất mới cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không vượt quá diện tích đất thu hồi và không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

2. Đối với nhóm đất nông nghiệp (kể cả đất tự khai hoang không theo quy hoạch) sử dụng từ trước ngày 01/7/2004, không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, hỗ trợ theo thực tế đất đang sử dụng, nhưng diện tích đất được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Trước khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp này phải được UBND cấp xã xác nhận là đất đó sử dụng ổn định, không có tranh chấp.

3. Giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ tái định cư vùng dự án thủy lợi, thủy điện: Hộ tái định cư thuộc các dự án thủy lợi, thủy điện được giao đất sản xuất, mức diện tích đất giao tùy theo quỹ đất của từng điểm, khu tái định cư nhưng tối thiểu phải đảm bảo là 0,5 ha đất nương, rẫy/1 hộ hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ/1 hộ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ/1 hộ. Căn cứ quỹ đất cụ thể, khả năng ngân sách của từng địa phương, khả năng lao động và số nhân khẩu của từng hộ, giao Tổ chức thực hiện công tác BT, HT và TĐC phối hợp với Chủ đầu tư, UBND cấp xã và cơ quan liên quan xây dựng phương án trình UBND cấp huyện phê duyệt.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại hoặc được hỗ trợ theo quy định như sau:

4.1. Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa theo giá đất nông nghiệp có cùng mục đích sử dụng, theo diện tích đất thực tế bị thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của UBND tỉnh. Giao Tổ chức thực hiện công tác BT, HT & TĐC phối hợp với UBND cấp xã, Nhà đầu tư và cơ quan liên quan kiểm tra, đề xuất mức hỗ trợ, lập thành biên bản, đưa vào phương án bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4.2. Trường hợp, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất không thuộc đối tượng tại tiết 4.1, khoản 4, Điều này chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

4.3. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí đầu tư này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

5. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước chưa giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).

 6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật; nếu là hộ gia đình, cá nhân có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì UBND cấp huyện xem xét quỹ đất nông nghiệp tại địa phương để giao lại đất sản xuất nông nghiệp phù hợp với nơi ở, tập quán sinh sống, canh tác của nhân dân.

7. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định theo Điều 70 của Luật Đất đai; khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (không thuộc trường hợp qui định tại khoản 1, Điều này) thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).