vanban.org

Điều 11. Bồi thường, hỗ trợ về đất ở khi Nhà nước thu hồi đất , mà đất đã sử dụng từ trước ngày 01/7/2004, nhưng không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất và đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 / 7 / 2004 , nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp g iấy chứng nhận — Quyết định 23/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/07/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 43/2014/QĐ-UBND · 22/12/2014 Sửa đổi, bổ sung: 30/2013/QĐ-UBND · 22/11/2013
Quảng Nam Ban hành 30/09/2010 Hiệu lực 10/10/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 11 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 23/2010/QĐ-UBND
02/12/201330/2013/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 06/07/201314/2013/QĐ-UBNDSửa đổi, bổ sung Đang xem 10/10/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 23/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Bồi thường, hỗ trợ về đất ở khi Nhà nước thu hồi đất , mà đất đã sử dụng từ trước ngày 01/7/2004, nhưng không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất và đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 / 7 / 2004 , nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp g iấy chứng nhận

1. Trường hợp, thu hồi đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993, nhưng không có giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ theo quy định của pháp luật về đất đai, được UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện như sau:

1.1. Trường hợp, đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 10 của Quy định này, thì người đang sử dụng đất được bồi thường đối với diện tích đất ở thực tế đang sử dụng, nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh. Đối với phần diện tích đất có nhà ở vượt quá hạn mức giao đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở, nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư.

1.2. Trường hợp, đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 10 của Quy định này, nhưng đất đã có nhà ở mà người đang sử dụng đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác; giao Tổ chức thực hiện công tác BT, HT & TĐC phối hợp với UBND cấp xã, Nhà đầu tư và cơ quan liên quan tại địa phương xác nhận, lập thành biên bản, báo cáo UBND cấp huyện để xem xét bố trí 01 lô đất, với diện tích tối thiểu theo quy hoạch tại khu tái định cư để làm nhà ở và được hỗ trợ:

- Hỗ trợ 60% tiền sử dụng đất cho hộ nghèo (theo tiêu chí nghèo).

- Hỗ trợ 40% tiền sử dụng đất cho các đối tượng khác.

- Giá đất: theo giá đất tại khu tái định cư.

- Phần giá trị còn lại thì người được giao đất ở phải nộp tiền sử dụng đất; riêng đối với hộ thuộc diện nghèo (theo tiêu chí nghèo) thì được xem xét cho nợ tiền sử dụng đất, thời gian nợ không quá 05 năm.

2. Trường hợp, thu hồi đối với đất đã sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, nhưng không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nay được UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:

2.1. Trường hợp, đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 10 của Quy định này, thì người đang sử dụng đất được bồi thường theo diện tích đất ở thực tế đang sử dụng, nhưng diện tích đất ở được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh. Khi chi trả tiền bồi thường phải thu lại tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 8, Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; đối với phần diện tích đất có nhà ở vượt quá hạn mức (nếu có) và phần diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo giá đất nông nghiệp. Hộ gia đình, cá nhân nêu trên nếu thuộc diện được giao lại đất để tái định cư, thì được hưởng cơ chế hỗ trợ tiền sử dụng đất theo quy định tại tiết 1.2 hoặc tiết 1.3, khoản 1, Điều 35 của Quy định này.

2.2. Trường hợp, đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 10 của Quy định này, nhưng đất đã có nhà ở mà người đang sử dụng đất bị thu hồi không có chỗ ở nào khác, giao Tổ chức thực hiện công tác BT, HT & TĐC phối hợp với UBND cấp xã, Nhà đầu tư và cơ quan liên quan tại địa phương xác nhận, lập thành biên bản và báo cáo UBND cấp huyện để xem xét bố trí 01 lô đất, với diện tích tối thiểu theo quy hoạch tại khu tái định cư để làm nhà ở, người được giao đất ở tại khu tái định cư phải nộp 100% tiền sử dụng đất.

3. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004, nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách Nhà nước, mà chưa được cấp giấy chứng nhận, việc bồi thường, hỗ trợ đất thực hiện như sau:

3.1. Trường hợp, sử dụng đất trước ngày 15/10/1993, thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao.

3.2. Trường hợp, sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/ 2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:

a) Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở).

b) Đối với diện tích đất ở: Được bồi thường trong hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh; đối với phần đất ở ngoài hạn mức được bồi thường theo giá đất ở, nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 8, Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ.