vanban.org

Điều 37. Việc tổ chức đối thoại của Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh — Quyết định 14/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 02/08/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 02/08/2014 Thay thế: 37/2014/QĐ-UBND · 23/07/2014 Thay thế: 38/2014/QĐ-UBND · 23/07/2014
Quảng Ngãi Ban hành 12/06/2007 Hiệu lực 22/06/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 28/2022/QĐ-UBND Ban hành quy định về tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân tỉnh Quảng Ngãi, tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp đất đai gửi đến lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và Trụ sở tiếp công dân tỉnh Quảng Ngãi · 28/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 37/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân tỉnh Quảng Ngãi, tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tranh chấp đất đai gửi đến lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh · 37/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2007/QĐ-UBND Ban hành Quy chế tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi · 14/2007/QĐ-UBND
02/08/201438/2014/QĐ-UBND +1Thay thế Đang xem 22/06/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2007/QĐ-UBND › Phần II › Chương VIII › Điều 37
Đọc toàn văn

Điều 37. Việc tổ chức đối thoại của Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh

Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh được giao nhiệm vụ thẩm tra, xác minh các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phải tổ chức gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại hoặc các bên trong tranh chấp quyền sử dụng đất.

1. Thành phần tham gia đối thoại:

- Thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì thẩm tra, xác minh trực tiếp chủ trì hoặc ủy quyền cho cấp phó của mình chủ trì cuộc đối thoại; người khiếu nại, người bị khiếu nại, các bên trong tranh chấp quyền sử dụng đất, người có quyền, lợi ích liên quan; đại diện Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vụ việc khiếu nại, tranh chấp, các thành phần khác do người chủ trì quyết định trên cơ sở đề xuất của cán bộ trực tiếp xác minh vụ việc. Giấy mời việc đối thoại phải đến người được mời tham dự ít nhất là trước 01 ngày so với thời điểm diễn ra đối thoại. Nếu người khiếu nại, người bị khiếu nại, các bên tranh chấp vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn cuộc đối thoại; trường hợp không có lý do chính đáng thì vẫn tiến hành với những thành phần còn lại.

- Việc đối thoại được tổ chức tại cơ quan của người chủ trì đối thoại hoặc tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra tranh chấp, khiếu nại.

2. Tiến hành đối thoại:

- Người chủ trì đối thoại kiểm tra thành phần tham dự theo giấy mời, tư cách của những người đại diện hoặc được ủy quyền; công bố nội quy đối thoại, hướng dẫn các bên tham dự cách thức đối thoại để đảm bảo cuộc đối thoại có trật tự, hiệu quả; nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả việc xác minh nội dung vụ việc khiếu nại, tranh chấp. Người tranh chấp, người khiếu nại, người bị tranh chấp, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và các thành phần khác tham gia đối thoại lần lượt có ý kiến về nội dung sự việc, đưa ra những bằng chứng liên quan đến vụ việc và yêu cầu, kiến nghị của mình. Một người có quyền phát biểu ý kiến nhiều lần nhưng phải tuân theo sự điều hành của người chủ trì, không được tự ý cắt ngang ý kiến của người khác; trả lời những câu hỏi trực tiếp của người chủ trì, người trực tiếp tiến hành thẩm tra, xác minh đặt ra; không phát biểu những ý kiến ngoài phạm vi nội dung tranh chấp, khiếu nại đã nêu trong đơn khiếu nại, tranh chấp đã được thụ lý.

- Sau khi nghe những người tham gia đối thoại trình bày ý kiến, người chủ trì đối thoại đánh giá các chứng cứ do các bên cung cấp, hồ sơ đã xác minh, phân tích đúng, sai; nếu thấy đã rõ các tình tiết, đầy đủ bằng chứng thì căn cứ vào qui định của pháp luật đề ra hướng giải quyết hoặc yêu cầu tiếp tục thẩm tra, xác minh bổ sung và qui định thời hạn hoàn thành việc xác minh bổ sung.

- Người chủ trì đối thoại bố trí cán bộ ghi biên bản. Biên bản đối thoại phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, tóm tắt kết quả về các nội dung đã đối thoại, có đầy đủ chữ ký của những người tham gia. Những người tham gia được quyền bảo lưu ý kiến cuối cùng của mình về nội dung vụ việc và về cuộc đối thoại trước khi ký xác nhận biên bản. Trường hợp người tham gia đối thoại không ký xác nhận thì người ghi biên bản phải ghi rõ lý do và những người tham gia còn lại ký xác nhận. Trong trường hợp quá trình đối thoại cần thiết ghi âm, ghi hình làm tài liệu bổ sung hồ sơ vụ việc thì phải cho những người tham dự nghe lại, xem lại và ghi rõ vào biên bản đối thoại.

- Biên bản đối thoại nhiều trang thì phải đề nghị người khiếu nại, người bị khiếu nại và các bên tranh chấp ký xác nhận vào từng trang và đóng dấu xác nhận của cơ quan chủ trì. Nếu việc đối thoại diễn ra tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi diễn ra cuộc đối thoại. Biên bản đối thoại là một trong căn cứ làm cơ sở việc giải quyết đối thoại phải được lưu vào hồ sơ và sao gửi kèm theo báo cáo kết quả xác minh kết luận, kiến nghị cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.