Điều 15. Quy trình tiếp công dân thường xuyên
1. Cán bộ được phân công tiếp công dân phải hướng dẫn cho công dân Nội quy, toàn bộ quy trình tiếp công dân tại Trụ sở theo nội dung đã công khai.
2. Yêu cầu người đến phòng Tiếp công dân xuất trình giấy tờ tùy thân.
3. Yêu cầu công dân trình bày trung thực, rõ ràng căn cứ, lý do đến nơi tiếp dân của tỉnh và nội dung, yêu cầu, đề nghị cụ thể của họ. Lắng nghe và ghi chép trung thực, đầy đủ; trường hợp công dân trình bày chưa cụ thể, chưa rõ thì phải hỏi lại để đảm bảo thông tin cụ thể, chính xác theo các tiêu chí đã qui định. Trong trường hợp có nhiều người đến khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì yêu cầu cử đại diện trực tiếp trình bày nội dung sự việc; số người cử đại diện tối đa không quá ba người trong cùng một sự việc.
4. Trường hợp công dân đến khiếu nại bằng đơn thì cán bộ tiếp công dân phải kiểm tra đơn và các tài liệu kèm theo đơn; đơn phải ghi rõ ngày, tháng, năm; tên, địa chỉ, của người khiếu nại, người bị khiếu nại và phải có chữ ký trực tiếp của người khiếu nại. Sau khi kiểm tra hình thức và nghiên cứu nội dung, cán bộ tiếp công dân phải xử lý như sau:
- Khiếu nại không đúng thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo qui định tại Điều 23 Luật Khiếu nại, tố cáo (đã sửa đổi, bổ sung) thì trả lại đơn và hướng dẫn họ đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Việc hướng dẫn có thể thực hiện bằng lời nói; trường hợp công dân yêu cầu hướng dẫn bằng văn bản thì cán bộ tiếp công dân phải thực hiện bằng Phiếu hướng dẫn; Phiếu hướng dẫn phải có chữ ký trực tiếp, họ, tên, chức danh của cán bộ tiếp công dân; trường hợp người hướng dẫn là Trưởng phòng Tiếp công dân thì đóng dấu phòng Tiếp công dân của tỉnh, nếu là công chức khác thuộc phòng thì đóng dấu phòng Tiếp công dân của tỉnh vào bên trên góc trái của Phiếu hướng dẫn.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng do người có thẩm quyền để quá thời hạn mà không giải quyết, người khiếu nại gửi đơn đến Ủy ban nhân dân tỉnh theo qui định của Điều 39 Luật Khiếu nại, tố cáo thì tiếp nhận đơn để tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có văn bản yêu cầu cấp dưới giải quyết và giao cho Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Thanh tra tỉnh kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng thuộc một trong các trường hợp qui định tại Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo (đã sửa đổi, bố sung) thì trả lại đơn cho công dân và giải thích cho họ. Trường hợp đã giải thích trực tiếp mà họ vẫn không chấp hành thì tiếp nhận đơn và trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn Trưởng phòng Tiếp công dân có văn bản giải thích gửi cho họ. Việc giải thích bằng văn bản chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng đơn khiếu nại không đảm bảo nội dung theo Điều 33 của Luật Khiếu nại, tố cáo thì hướng dẫn họ viết lại đơn cho đúng qui định. Trường hợp họ là người không có khả năng viết lại đơn thì cán bộ tiếp dân phải hỏi họ và viết đúng các nội dung theo Điều 33 của Luật Khiếu nại, tố cáo và yêu cầu họ ký xác nhận hoặc điểm chỉ để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết.
- Trường hợp khiếu nại tuy thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng khiếu nại thông qua người đại diện, người được ủy quyền thì phải kiểm tra tính hợp pháp của giấy tờ chứng minh đại diện và giấy tờ chứng minh được ủy quyền và yêu cầu người đại diện, người được ủy quyền thực hiện đúng các qui định trên.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết lần hai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng người khiếu nại chưa cung cấp được quyết định giải quyết lần đầu thì giải thích cho họ hiểu và yêu cầu họ phải bổ túc hồ sơ kịp thời thì mới được nhận đơn và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết.
- Trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và trường hợp phải nhận đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới của Ủy ban nhân dân tỉnh nhưng do cấp dưới để quá thời hạn mà công dân khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thì phòng Tiếp công dân phải viết giấy biên nhận đơn và các tài liệu kèm theo đơn. Giấy biên nhận lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản.
Giấy biên nhận này sẽ được chuyển kèm theo đơn cho cơ quan làm nhiệm vụ thẩm tra, xác minh theo văn bản giao nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
5. Trường hợp công dân đến trình bày khiếu nại trực tiếp mà không có đơn thì xử lý như sau:
- Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thì giải thích, hướng dẫn họ theo qui định của pháp luật.
- Trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thì hướng dẫn họ viết đơn để thực hiện quyền khiếu nại; trường hợp họ là người không có khả năng viết đơn thì cán bộ tiếp công dân phải ghi lại đầy đủ nội dung theo qui định tại Điều 33 Luật Khiếu nại, tố cáo vào biên bản tiếp dân hoặc sổ tiếp dân, yêu cầu họ ký xác nhận hoặc điểm chỉ và căn cứ vào đó xử lý trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thụ lý giải quyết.
- Nếu người khiếu nại là người thuộc diện được Nhà nước trợ giúp pháp lý theo qui định tại Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Trợ giúp pháp thì hướng dẫn họ liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh để đề nghị trợ giúp.
6. Trường hợp công dân đến gửi đơn, trình bày việc tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh theo khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai thì xử lý tương tự như đối với trường hợp khiếu nại.
7. Trường hợp công dân tố cáo:
- Giải thích cho họ rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo theo qui định tại Điều 57 Luật Khiếu nại, tố cáo.
- Giải thích cho họ hiểu pháp luật qui định không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.
- Trường hợp người tố cáo trình bày trực tiếp thì cán bộ tiếp công dân phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ người tố cáo, khi cần thiết có thể ghi âm lời tố cáo. Bản ghi nội dung tố cáo phải cho người tố cáo đọc lại, nghe lại và ký xác nhận. Thời điểm tiếp nhận tố cáo được tính từ ngày người tố cáo ký xác nhận vào nội dung bản tố cáo.
- Trường hợp người tố cáo gửi kèm theo đơn những thông tin, tài liệu làm bằng chứng để tố cáo thì phải viết giấy biên nhận, có chữ ký của người tiếp nhận và người cung cấp. Giấy biên nhận viết thành hai bản, mỗi bên giữ một bản.
- Trường hợp tố cáo bằng điện thoại, bằng thông điệp dữ liệu thì cán bộ tiếp nhận ghi chép và báo cáo Phó Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách chỉ đạo, tổ chức biện pháp xác minh tên, địa chỉ người tố cáo theo thông tin người tố cáo cung cấp; nếu là thông tin tố cáo tham nhũng, thực hiện theo qui định tại Điều 43 Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng.
- Trường hợp người tố cáo yêu cầu bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của họ thì cán bộ tiếp công dân báo cáo Trưởng phòng Tiếp công dân thực hiện và chuyển yêu cầu này cho người có trách nhiệm chỉ đạo, giải quyết tiếp theo.
- Thực hiện yêu cầu, nội dung khác theo qui định tại Điều 38 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ về tiếp nhận tố cáo.
8. Trường hợp công dân phản ánh, kiến nghị, hỏi về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính: Cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm lắng nghe và hướng dẫn, giải thích rõ ràng cho công dân với khả năng, điều kiện cho phép; tiếp nhận các ý kiến phản ánh, kiến nghị bằng đơn hoặc trực tiếp; nghiên cứu và tham mưu đề xuất xử lý theo qui định cụ thể trong Quy chế này.