vanban.org

Điều 56. Hoạt động thẩm tra của Ban của Hội đồng nhân dân Thành phố — Nghị quyết 88/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 25/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND Thành phố Hà Nội Ban hành 15/07/2026 Hiệu lực 25/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 88/2026/NQ-HĐND › Chương IV › Điều 56
Đọc toàn văn

Điều 56. Hoạt động thẩm tra của Ban của Hội đồng nhân dân Thành phố

1. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra. Hồ sơ dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo gửi thẩm tra được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các quy định khác có liên quan và theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân.

2. Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra nghị quyết, đề án, báo cáo được phân công theo trình tự quy định tại khoản 3 Điều 54 Quy chế này. Trường hợp không tổ chức được phiên họp toàn thể thì thực hiện quy định tại khoản 4 Điều 54 Quy chế này.

3. Căn cứ vào nội dung, phạm vi, thời gian thẩm tra và tình hình thực tế, Bộ phận chuyên trách Ban của Hội đồng nhân dân Thành phố tham gia nghiên cứu báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết; yêu cầu cơ quan soạn thảo và các cơ quan liên quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề thẩm tra; có thể tổ chức họp lấy ý kiến của các chuyên gia, những người am hiểu về vấn đề đó; khảo sát tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan.

4. Sau khi kết thúc thẩm tra, Trưởng ban ký ban hành báo cáo kết quả với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố theo quy định... Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra được thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, đồng thời phải gửi đến cơ quan trình dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo.

5. Trách nhiệm của Bộ phận chuyên trách của Ban của Hội đồng nhân dân và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

a) Bộ phận chuyên trách của Ban chủ trì theo dõi toàn bộ quá trình thẩm tra; tổng hợp ý kiến; tham mưu hoàn thiện báo cáo thẩm tra; theo dõi việc tiếp thu, chỉnh lý sau thẩm tra.

b) Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố phối hợp bảo đảm tiến độ chuẩn bị hồ sơ, phục vụ các cuộc họp, khảo sát, làm việc của Ban; rà soát thể thức văn bản, cập nhật hồ sơ trên môi trường điện tử và theo dõi tiến độ hoàn thiện các nội dung trình kỳ họp.

6. Trong quá trình thẩm tra, Ban của Hội đồng nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan trình, cơ quan phối hợp và các cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, số liệu; yêu cầu giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản đối với những nội dung chưa rõ, còn có ý kiến khác nhau hoặc chưa bảo đảm căn cứ pháp lý, tính khả thi. Cơ quan được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn và chịu trách nhiệm về nội dung đã cung cấp.