Điều 29. Tổ chức phiên họp của Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố
1. Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố họp thường kỳ mỗi tháng một lần; họp đột xuất theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc khi có yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân đề xem xét, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền.
2. Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định triệu tập, chủ trì phiên họp; trường hợp Chủ tịch vắng mặt thì Phó Chủ tịch được Chủ tịch phân công hoặc ủy quyền chủ trì phiên họp. Trường hợp cả Chủ tịch và các Phó Chủ tịch đều vắng mặt thì việc triệu tập, chủ trì phiên họp thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba (2/3) tổng số thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân tham dự. Các quyết định của Thường trực Hội đồng nhân dân được thông qua theo đa số thành viên tham dự phiên họp; trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến của Chủ tọa phiên họp.
4. Nội dung phiên họp do Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định trên cơ sở đề xuất của các Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan. Hồ sơ, tài liệu phục vụ phiên họp phải được chuẩn bị đầy đủ, gửi đến các thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân trước phiên họp theo thời gian do Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định; đối với trường hợp khẩn cấp có thể bổ sung tài liệu tại phiên họp.
5. Căn cứ nội dung phiên họp, Chủ tịch Hội đồng nhân dân quyết định mời đại diện Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố, lãnh đạo các Ban của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân các xã, phường, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học hoặc các đối tượng khác tham dự để báo cáo, giải trình hoặc tham gia ý kiến; người được mời tham dự được phát biểu nhưng không biểu quyết.
6. Việc thảo luận tại phiên họp phải tập trung vào những nội dung thuộc thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân; thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, phát biểu đầy đủ ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến, biểu quyết của mình. Đối với nội dung liên quan nhiều lĩnh vực hoặc còn có ý kiến khác nhau, Chủ tọa phiên họp kết luận rõ nội dung thống nhất, nội dung cần tiếp tục hoàn thiện và phân công cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp tổ chức thực hiện.
7. Kết luận phiên họp của Thường trực Hội đồng nhân dân được thể hiện bằng nghị quyết, thông báo kết luận hoặc văn bản khác theo thẩm quyền; là căn cứ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức thực hiện. Thường trực Hội đồng nhân dân phân công rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm theo dõi, đôn đốc đối với từng nhiệm vụ.