vanban.org

Điều 42. Đào tạo ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao và các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm — Thông tư 79/2026/TT-BGDĐT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 10/11/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành 25/09/2026 Hiệu lực 10/11/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 79/2026/TT-BGDĐT › Chương VI › Điều 42
Đọc toàn văn

Điều 42. Đào tạo ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao và các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

1. Phạm vi và đối tượng áp dụng ngành, nghề đặc thù

a) Đào tạo ngành, nghề đặc thù là việc tổ chức đào tạo đối với ngành, nghề có yêu cầu riêng về điều kiện tuyển sinh, chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, phương thức tổ chức đào tạo, thực hành, thực tập, kiểm tra, đánh giá và điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định của cơ quan có thẩm quyền.

b) Các chương trình đào tạo đặc thù được tổ chức nhằm phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng khiếu, năng lực chuyên môn chuyên sâu; đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế.

2. Nguyên tắc tổ chức đào tạo ngành, nghề đặc thù

a) Việc tổ chức đào tạo ngành, nghề đặc thù phải bảo đảm mục tiêu, chuẩn đầu ra, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, mức độ tự chủ và trách nhiệm theo quy định của Khung trình độ quốc gia Việt Nam, chuẩn chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù và quy định chuyên ngành có liên quan (nếu có).

b) Chương trình đào tạo được thiết kế theo lộ trình tích lũy linh hoạt, phù hợp với đặc thù phát hiện, bồi dưỡng và phát triển năng khiếu; thời gian đào tạo có thể kéo dài hơn so với chương trình đào tạo thông thường cùng trình độ đào tạo.

c) Nội dung đào tạo phải bảo đảm sự cân đối giữa kiến thức lý thuyết, thực hành nghề nghiệp, thực tập nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng chuyên môn đặc thù; trong đó các môn học, mô đun thực hành, thực tập, năng khiếu chuyên môn giữ vai trò chủ đạo đối với các chương trình có yêu cầu hình thành năng lực biểu diễn, thi đấu, sáng tạo, thực hành nghề nghiệp. Tỷ trọng cụ thể được xác định trong chuẩn chương trình đào tạo và chương trình đào tạo của từng ngành, nghề.

d) Việc tổ chức đào tạo phải gắn với hoạt động biểu diễn, thi đấu, sáng tác, thực hành nghề nghiệp hoặc các hoạt động chuyên môn thực tế phù hợp với đặc điểm của từng ngành, nghề đào tạo.

đ) Người học tham gia chương trình đào tạo đặc thù phải đáp ứng yêu cầu về năng khiếu, thể chất, kỹ năng hoặc các điều kiện đặc thù khác theo quy định của chương trình đào tạo và quy chế tuyển sinh.

3. Chương trình đào tạo và thời gian đào tạo các ngành, nghề đặc thù

a) Chương trình đào tạo ngành, nghề đặc thù được xây dựng trên cơ sở chuẩn chương trình đào tạo, phù hợp với mô tả bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, chuẩn chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù và yêu cầu chuyên môn của từng ngành, lĩnh vực đào tạo.

b) Thời gian đào tạo được xác định theo đặc điểm của từng ngành, nghề; có thể tổ chức đào tạo liên tục, tích lũy theo giai đoạn hoặc kết hợp giữa đào tạo văn hóa và đào tạo chuyên môn năng khiếu.

c) Đối với các ngành, nghề nghệ thuật chuyên sâu, thể dục, thể thao thành tích cao và các ngành, nghề có yêu cầu đặc biệt về phát triển năng khiếu, cơ sở đào tạo được tổ chức tuyển sinh từ bậc trung học cơ sở hoặc trình độ tương đương theo quy định của pháp luật.

d) Người học tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật chuyên sâu được tổ chức học tập đồng thời chương trình giáo dục phổ thông và chương trình đào tạo nghề nghiệp theo kế hoạch đào tạo của cơ sở đào tạo.

đ) Người học hoàn thành chương trình đào tạo và khối lượng kiến thức văn hóa theo quy định được cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc công nhận trình độ tương đương theo quy định của pháp luật.

4. Đánh giá và công nhận kết quả học tập các ngành, nghề đặc thù

a) Việc kiểm tra, đánh giá, xét công nhận tốt nghiệp đối với ngành, nghề đặc thù được thực hiện bằng hình thức phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp, bao gồm bài thi thực hành, biểu diễn, thi đấu, trình diễn, bảo vệ sản phẩm, đồ án, dự án, hồ sơ nghề nghiệp hoặc đánh giá của hội đồng chuyên môn. Tiêu chí đánh giá phải được công bố trước, có minh chứng lưu trữ và bảo đảm đánh giá được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

b) Việc kiểm tra, đánh giá trong đào tạo ngành, nghề đặc thù được thực hiện phù hợp với đặc điểm của từng ngành, nghề đào tạo; kết hợp giữa đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực thực hành, biểu diễn, thi đấu hoặc sáng tạo nghề nghiệp.

c) Cơ sở đào tạo được công nhận kết quả học tập trước của người học thông qua thành tích thi đấu, giải thưởng chuyên môn, kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp, kết quả biểu diễn, sáng tác hoặc các minh chứng nghề nghiệp hợp pháp khác để xem xét miễn, giảm hoặc quy đổi tín chỉ theo quy định của cơ sở đào tạo.

d) Việc công nhận kết quả học tập trước phải bảo đảm khách quan, minh bạch, công bằng và có thể kiểm chứng. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm trong việc công nhận kết quả học tập.

5. Tổ chức đào tạo và quản lý đào tạo các ngành, nghề đặc thù

a) Cơ sở đào tạo xây dựng và ban hành quy định cụ thể về tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá, công nhận kết quả học tập và cấp văn bằng, chứng chỉ đối với các ngành, nghề đặc thù theo quy định của pháp luật.

b) Việc tổ chức đào tạo phải bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, địa điểm thực hành, luyện tập, biểu diễn, thi đấu và đội ngũ nhà giáo, huấn luyện viên, nghệ sĩ, chuyên gia có trình độ chuyên môn phù hợp.

c) Cơ sở đào tạo có trách nhiệm thực hiện công tác bảo đảm chất lượng, tự đánh giá và kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo quy định của pháp luật.

d) Bộ quản lý ngành, lĩnh vực và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và giám sát việc tổ chức đào tạo ngành, nghề đặc thù theo quy định của pháp luật.

6. Đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không thuộc nhóm ngành, nghề đặc thù thì việc tổ chức đào tạo được thực hiện theo quy định chung của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan.

7. Đào tạo ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

a) Việc tổ chức đào tạo ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định phải bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và tuân thủ quy định của pháp luật về lao động, an toàn, vệ sinh lao động và pháp luật có liên quan.

b) Cơ sở đào tạo xác định trong kế hoạch tổ chức đào tạo các nội dung và biện pháp bảo đảm an toàn cho người học, trong đó bao gồm: các công việc, mô đun, môn học, nội dung thực hành, thực tập có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, phương tiện bảo vệ cá nhân; biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và điều kiện tổ chức thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

c) Trước khi người học tham gia thực hành, thực tập thực hiện các công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cơ sở đào tạo phải cung cấp thông tin, hướng dẫn và tổ chức huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với nội dung đào tạo và công việc người học thực hiện. Việc tổ chức đào tạo đối với người học chưa đủ 18 tuổi phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động đối với người chưa thành niên.

d) Việc tổ chức thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải bảo đảm nội dung đào tạo, điều kiện thực hành, thực tập, an toàn, vệ sinh lao động và quyền, lợi ích hợp pháp của người học theo quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.

đ) Cơ sở đào tạo không bố trí người học chưa đủ 18 tuổi thực hiện công việc hoặc làm việc tại nơi làm việc thuộc danh mục công việc, nơi làm việc cấm sử dụng người chưa thành niên theo quy định của pháp luật về lao động.