Điều 36. Biên soạn, thẩm định, lựa chọn, ban hành chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác
1. Quy trình xây dựng chương trình đào tạo
a) Bước 1: Xác định nhu cầu học nghề và nhu cầu của người sử dụng lao động đối với lao động trình độ sơ cấp, lao động có kiến thức, kỹ năng để giải quyết một hoặc một số công việc đơn giản của nghề; từ đó xác định nghề đào tạo, trình độ đào tạo để xây dựng, lựa chọn chương trình đào tạo.
b) Bước 2: Thiết kế chương trình đào tạo, gồm xác định mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra; xác định danh mục, thời lượng các môn học, mô đun; xác định trình tự và mối liên hệ giữa các môn học, mô đun trong chương trình đào tạo.
c) Bước 3: Biên soạn chương trình đào tạo theo nội dung và cấu trúc đã được xác định, trong đó cụ thể hóa từng môn học, mô đun; điều kiện thực hiện môn học, mô đun; phương pháp và nội dung đánh giá.
d) Bước 4: Hoàn chỉnh dự thảo chương trình đào tạo.
đ) Bước 5: Thẩm định và ban hành chương trình đào tạo.
e) Bước 6: Đánh giá và cập nhật nội dung chương trình đào tạo.
2. Tổ chức xây dựng chương trình đào tạo
a) Người đứng đầu cơ sở đào tạo ra quyết định thành lập Ban chủ nhiệm xây dựng chương trình đào tạo.
b) Ban chủ nhiệm có từ 5 đến 7 thành viên (tùy theo khối lượng công việc của từng chương trình đào tạo cần xây dựng); gồm các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp, cán bộ khoa học kỹ thuật trong các doanh nghiệp; trong đó, có ít nhất một phần ba thành viên là nhà giáo đang giảng dạy các ngành, nghề trong nhóm ngành, nghề tương ứng. Ban chủ nhiệm có Trưởng ban, Phó Trưởng ban, Thư ký và các Ủy viên.
Tiêu chuẩn của thành viên Ban chủ nhiệm: Có trình độ trung cấp trở lên; Có ít nhất 3 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực của nghề cần xây dựng chương trình.
Trách nhiệm, quyền hạn của Ban chủ nhiệm, thành viên Ban chủ nhiệm do người đứng đầu cơ sở đào tạo quy định.
3. Thẩm định và ban hành chương trình đào tạo
a) Người đứng đầu cơ sở đào tạo quyết định thành lập Hội đồng thẩm định chương trình đào tạo.
Hội đồng thẩm định chương trình có từ 5 đến 7 thành viên (tùy theo khối lượng công việc của từng chương trình đào tạo cần thẩm định) là các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp, cán bộ khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp. Hội đồng thẩm định phải có ít nhất một thành viên là người của đơn vị sử dụng lao động sau đào tạo và có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là nhà giáo đang giảng dạy trình độ đào tạo sơ cấp hoặc trung cấp hoặc cao đẳng với nghề tương ứng. Trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện Lãnh đạo cơ sở đào tạo, Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên.
Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định chương trình: Có trình độ trung cấp trở lên; Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực của nghề cần thẩm định.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng thẩm định chương trình do người đứng đầu cơ sở đào tạo quy định.
b) Nguyên tắc làm việc của hội đồng thẩm định chương trình.
Hội đồng thẩm định chương trình làm việc dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng.
Phiên họp của Hội đồng thẩm định chương trình chỉ hợp lệ khi có mặt tối thiểu 2/3 số thành viên Hội đồng, trong đó có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên phản biện; các thành viên vắng mặt phải có bản nhận xét, đánh giá về chương trình gửi Hội đồng trước ngày họp.
Hội đồng thẩm định chương trình thảo luận công khai, từng thành viên trong hội đồng có ý kiến phân tích, đánh giá đối với chương trình đào tạo; biểu quyết từng nội dung và kết luận theo đa số (theo ý kiến của từ 2/3 thành viên Hội đồng trở lên).
Cuộc họp của Hội đồng thẩm định chương trình phải được ghi thành biên bản chi tiết; trong đó có các ý kiến của từng thành viên và kết quả biểu quyết đối với từng nội dung kết luận của Hội đồng. Biên bản được các thành viên của Hội đồng dự họp nhất trí thông qua và cùng ký tên.
c) Hội đồng thẩm định chương trình căn cứ vào các quy định hiện hành về chương trình đào tạo; yêu cầu của nghề đào tạo theo khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và mục tiêu, chuẩn đầu ra đã xác định để thẩm định chương trình đào tạo.
d) Hội đồng thẩm định chương trình phải kết luận rõ một trong các nội dung sau: thông qua chương trình đào tạo, không cần chỉnh sửa, bổ sung hoặc thông qua chương trình đào tạo nhưng yêu cầu phải chỉnh sửa, bổ sung và nêu nội dung cụ thể cần phải chỉnh sửa, bổ sung hoặc không thông qua chương trình đào tạo và nêu lý do không được thông qua.
đ) Chủ tịch Hội đồng thẩm định chương trình báo cáo kết quả thẩm định chương trình đào tạo, kèm theo biên bản họp hội đồng, hồ sơ thẩm định để người đứng đầu cơ sở đào tạo xem xét, quyết định ban hành.
e) Người đứng đầu cơ sở đào tạo căn cứ kết quả thẩm định chương trình đào tạo của hội đồng thẩm định tự chủ, tự chịu trách nhiệm phê duyệt và ban hành chương trình đào tạo áp dụng cho cơ sở mình.
4. Lựa chọn chương trình đào tạo
Người đứng đầu cơ sở đào tạo có thể lựa chọn chương trình đào tạo của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp khác nhưng phải tổ chức thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều này để phê duyệt áp dụng đối với cơ sở mình.
5. Đánh giá, cập nhật chương trình đào tạo
a) Ít nhất 3 năm một lần, người đứng đầu cơ sở đào tạo phải tổ chức đánh giá chương trình đào tạo về sự đáp ứng so với chuẩn đầu ra đã xác định và yêu cầu của người sử dụng lao động và những thay đổi của công nghệ, kỹ thuật trong sản xuất đối với nghề đào tạo; những thay đổi trong quy định của nhà nước, của cơ sở đào tạo về chương trình đào tạo; sự thống nhất và gắn kết giữa nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, kiểm tra đánh giá, dự kiến tác động của việc thay đổi, cập nhật chương trình đào tạo.
b) Dự thảo những nội dung cần sửa đổi, cập nhật chương trình đào tạo và tổ chức thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều này.
6. Cơ sở đào tạo phải công khai chương trình đào tạo với người học khi tuyển sinh bằng hình thức niêm yết tại trụ sở, địa điểm đào tạo, trong thông báo tuyển sinh hoặc trên trang thông tin điện tử của đơn vị hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các nội dung cần công khai gồm:
a) Nội dung công khai về chương trình đào tạo: tên chương trình đào tạo, đối tượng tuyển sinh, thời gian tuyển sinh, thời gian đào tạo, địa điểm đào tạo; những kiến thức người học sẽ được trang bị, những kỹ năng được thực hành; chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo; mức học phí phải nộp; các chính sách hỗ trợ (nếu có).
b) Nội dung công khai về chuẩn đầu ra gồm: những kiến thức, kỹ năng mà người học phải đạt được; những công việc của nghề hoặc vị trí việc làm mà người học có thể thực hiện được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo.
7. Đối với chương trình đào tạo trình độ sơ cấp việc biên soạn, thẩm định, lựa chọn, ban hành chương trình đào tạo theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. Đối với chương trình đào tạo nghề khác tùy thuộc vào tính chất, mức độ của chương trình đào tạo, người đứng đầu cơ sở đào tạo quyết định thực hiện đầy đủ hay rút gọn quy trình, quy định đối với việc biên soạn, thẩm định, lựa chọn, ban hành chương trình đào tạo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.