vanban.org

Điều 23. Mức tiền lương bình quân kế hoạch — Thông tư 139/2026/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 30/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công an Ban hành 30/07/2026 Hiệu lực 30/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 139/2026/TT-BCA › Chương II › Mục 4 › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Mức tiền lương bình quân kế hoạch

1. Mức tiền lương bình quân kế hoạch của đơn vị sự nghiệp công lập được xác định căn cứ vào mức tiền lương bình quân thực hiện năm trước liền kề của người giữ chức vụ quản lý và người lao động gắn với năng suất lao động, chênh lệch thu - chi trước thuế thu nhập doanh nghiệp kế hoạch (sau đây gọi là lợi nhuận nếu thu lớn hơn chi trước thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc lỗ nếu thu nhỏ hơn chi). Cách xác định mức tiền lương bình quân kế hoạch thực hiện theo các khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều này.

2. Đơn vị sự nghiệp công lập có lợi nhuận thì mức tiền lương bình quân gắn với mức tăng, giảm năng suất lao động, lợi nhuận kế hoạch so với thực hiện năm trước liền kề theo nguyên tắc sau:

a) Năng suất lao động tăng và lợi nhuận không giảm thì tiền lương tăng tối đa không quá mức tăng năng suất lao động;

b) Năng suất lao động tăng, lợi nhuận giảm thì tiền lương tăng tối đa không quá 80% mức tăng năng suất lao động;

c) Năng suất lao động, lợi nhuận bằng thực hiện năm trước liền kề thì tiền lương tối đa bằng thực hiện năm trước liền kề;

d) Năng suất lao động giảm, lợi nhuận bằng thực hiện năm trước liền kề thì tiền lương giảm theo năng suất lao động;

đ) Năng suất lao động bằng thực hiện năm trước liền kề và lợi nhuận tăng hoặc giảm, năng suất lao động và lợi nhuận giảm thì tiền lương điều chỉnh giảm theo năng suất lao động và tăng hoặc giảm tối đa bằng 20% mức tăng hoặc giảm lợi nhuận;

e) Năng suất lao động giảm và lợi nhuận tăng thì tiền lương điều chỉnh giảm tối đa không quá 80% mức giảm năng suất lao động và tăng tối đa bằng 20% mức tăng lợi nhuận.

Mức tiền lương bình quân sau khi xác định theo khoản này bảo đảm không thấp hơn mức tiền lương chế độ quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Đơn vị sự nghiệp công lập không có lợi nhuận hoặc lỗ thì mức tiền lương bình quân bằng mức tiền lương chế độ; trong đó, mức tiền lương chế độ là mức tiền lương được xác định như sau:

a) Đối với người giữ chức vụ quản lý, người lao động hợp đồng thuộc biên chế Công an: mức tiền lương chế độ xác định theo chức vụ, chức danh, cấp hàm, ngạch, bậc, các khoản phụ cấp lương theo quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;

b) Đối với người giữ chức vụ quản lý, người lao động hợp đồng không thuộc biên chế Công an: mức tiền lương chế độ được xác định trên cơ sở mức tiền lương theo hợp đồng lao động và tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, khi làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

4. Đơn vị sự nghiệp công lập có kết quả hoạt động giảm lỗ (kể cả năm kế hoạch không có lợi nhuận) thì căn cứ vào mức độ giảm lỗ để xác định mức tiền lương bình quân, bảo đảm tương quan chung và báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xem xét, cho ý kiến trước khi quyết định.

5. Đơn vị sự nghiệp công lập được sắp xếp lại trên cơ sở hợp nhất hoặc sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương bình quân kế hoạch trong năm đầu sắp xếp lại và năm sau liền kề được xác định căn cứ vào kế hoạch hoạt động sự nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết, mặt bằng tiền lương năm trước liền kề trước khi sắp xếp lại của các đơn vị sự nghiệp công lập, tiền lương của đơn vị cùng ngành nghề trên thị trường, nhưng không vượt quá mức tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập có mức tiền lương cao nhất trong số các đơn vị được sắp xếp lại.

6. Đối với trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập điều chỉnh lại kế hoạch hoạt động sự nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết thì phải rà soát lại mức tiền lương bình quân kế hoạch của người lao động và người giữ chức vụ quản lý bảo đảm các điều kiện theo quy định tại Điều này.