vanban.org

Điều 10. Giao nhận tiền mặt trong ngành Ngân hàng — Quyết định 443/QĐ-NHPT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 16/06/2008 Sửa đổi, bổ sung: 909/QĐ-NHPT · 31/12/2008
Ngân hàng phát triển Việt Nam Ban hành 16/06/2008 Hiệu lực 16/06/2008 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 443/QĐ-NHPT Ban hành Quy định giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam 2008 · 443/QĐ-NHPT
31/12/2008909/QĐ-NHPTChưa hợp nhất 16/06/2008Bản gốcBan hành mới Hiện hành
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 443/QĐ-NHPT › Chương II › Mục II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Giao nhận tiền mặt trong ngành Ngân hàng

1.  Giao nhận tiền mặt giữa Đơn vị với NHNN, KBNN và TCTD khác trong cùng tỉnh, thành phố:

1.1. Nguyên tắc giao nhận:

Thực hiện kiểm đếm theo bó tiền đủ 10 thếp, nguyên niêm phong hoặc túi tiền nguyên niêm phong. Trường hợp cần kiểm đếm tờ (miếng) số tiền đã nhận, phải thành lập Hội đồng kiểm đếm, và kiểm đếm xong trong phạm vi 15 ngày làm việc, đơn vị giao cử người chứng kiến; trường hợp tín nhiệm bên nhận, đơn vị giao uỷ quyền bằng văn bản cho đơn vị nhận tổ chức hội đồng kiểm đếm.

Các loại tiền mới in, đúc được giao nhận theo bao, hộp, thùng nguyên niêm phong kẹp chì của nhà máy in, đúc tiền hoặc của NHNN; Các loại tiền được kiểm đếm, phân loại, đóng bó (túi) liên hoàn, trực tuyến của Trung tâm xử lý tiền NHNN, TCTD được giao nhận theo nguyên tắc nêu trên.

1.2. Bó, túi tiền giao nộp với NHNN: 

Những bó (túi) tiền Đơn vị giao nộp cho NHNN phải là những bó (túi) tiền của chính Đơn vị mình hoặc của Đơn vị khác cùng hệ thống NHPT trong cùng tỉnh, thành phố, kể cả những bó (túi) tiền Đơn vị đã nhận của KBNN

1.3. Hội đồng kiểm đếm: 

- Đơn vị tổ chức Hội đồng kiểm đếm là đơn vị nhận tiền theo bó, túi nguyên niêm phong

- Đối với các đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT, thành phần của Hội đồng kiểm đếm tại đơn vị như sau:

+  Chủ tịch hội đồng: Giám đốc hoặc Phó giám đốc Chi nhánh.

+  Các thành viên: Trưởng phòng Tài chính kế toán, Trưởng phòng Tổ chức hành chính, Trưởng phòng Kiểm tra (nếu có).

+  Hội đồng được quyền trưng tập một số cán bộ giúp việc như: thủ kho, thủ quỹ, kiểm ngân, bảo vệ.

Trong phạm vi thời gian 15 ngày, nếu đơn vị không tổ chức kiểm đếm, xảy ra thừa thiếu đơn vị phải tự chịu trách nhiệm xử lý thừa thiếu đó.

1.4. Thông báo hình thức kiểm đếm: Sau khi đã giao nhận bó tiền, túi tiền nguyên niêm phong, bên nhận phải thông báo ngay tại địa điểm nhận tiền một trong các cách kiểm đếm: kiểm đếm tờ (miếng) ngay hay không kiểm đếm tờ (miếng) mà chấp nhận đủ số tiền hoặc có lập Hội đồng kiểm đếm…Trường hợp lập Hội đồng kiểm đếm, hai bên phải thoả thuận ngày kiểm đếm (trong thời hạn quy định), bên giao cử người (hoặc thông báo cho TCTD, KBNN đại diện) chứng kiến hay uỷ quyền cho Đơn vị nhận lập Hội đồng kiểm đếm.

1.5. Người chứng kiến: Là người đại diện cho bên giao tiền đến chứng kiến việc tổ chức kiểm đếm của Hội đồng kiểm đếm bên nhận theo quy định tại Điều 10. Người chứng kiến phải trực tiếp xem xét, chứng kiến việc kiểm đếm của Hội đồng kiểm đếm bên nhận; xác nhận sự sai sót của bó (túi) tiền, ký xác nhận vào mặt sau của niêm phong bó (túi) tiền sai sót, ký biên bản...

-  Đơn vị có tiền giao trực tiếp cử người đến Đơn vị (cùng, tỉnh thành phố) nhận tiền chứng kiến.

-  Đối với trường hợp tiền đã điều chuyển về Kho tiền Trung ương, sau đó điều chuyển đi tỉnh, thành phố khác; khi Đơn vị có tiền yêu cầu trực tiếp chứng kiến, phải có văn bản đề nghị Cục phát hành và Kho quỹ (thông qua NHNN chi nhánh), Cục Phát hành và Kho quỹ sẽ thông báo thời gian, địa điểm kiểm đếm tiền. Đối với những trường hợp cụ thể này, Kho tiền Trung ương không uỷ quyền cho Đơn vị nhận tổ chức Hội đồng kiểm đếm.

1.6. Kiểm đếm tại Đơn vị giao: Trường hợp Đơn vị nhận tiền là KBNN, TCTD yêu cầu kiểm đếm tờ (miếng) ngay tại trụ sở của Đơn vị, Đơn vị tạo điều kiện để Đơn vị nhận kiểm đếm (nếu trụ sở có mặt bằng phục vụ cho kiểm đếm…). Đơn vị nhận tiền chủ động tự lo các phương tiện, máy móc phục vụ cho kiểm đếm.

1.7. Kiểm đếm tại đơn vị nhận thực hiện theo trình tự sau:

a) Giao nhận theo bao tiền: Đếm đủ tổng số bao sau đó kiểm tra tình trạng nguyên niêm phong, trên giấy niêm phong ghi đầy đủ các yếu tố của từng bao tiền.

b) Giao nhận theo bó (túi) tiền: Đếm đủ tổng số bó (túi) tiền, sau đó kiểm tra tình trạng nguyên niêm phong (đối với bó tiền giấy phải đủ 10 thếp), trên giấy niêm phong ghi đầy đủ các yếu tố của từng bó (túi) tiền.

c) Kiểm đếm tờ (miếng) của bó (túi) tiền: Trước hết phải kiểm soát kỹ bó (túi) tiền đóng gói, niêm phong theo đúng quy định không? sau đó mới cắt dây buộc của bó (túi) tiền để kiểm đếm tờ (miếng), giữ giấy niêm phong cho đến khi đếm xong bó (túi) tiền. Không được để lẫn giấy niêm phong của bó (túi) tiền này với giấy niêm phong bó (túi) tiền khác.

d) Trường hợp giao nhận theo bao nguyên niêm phong kẹp chì mà phải tổ chức kiểm đếm tờ: Hội đồng kiểm đếm tổ chức kiểm đếm các bó tiền trong bao, cuối cùng là kiểm đếm tờ các bó tiền.

1.8. Các trường hợp được coi như đã nhận đủ tiền:

Đơn vị đã nhận tiền mặt theo bó (túi) tiền nguyên niêm phong từ NHNN chi nhánh cùng tỉnh, thành phố (kể cả trường hợp KBNN nhận tiền từ Đơn vị), coi như đã nhận đủ số tiền trong các trường hợp sau:

-  Không thành lập Hội đồng kiểm đếm hoặc Hội đồng kiểm đếm thành lập không đúng quy định;

-  Có thành lập Hội đồng kiểm đếm nhưng không thông báo cho Đơn vị giao cử người chứng kiến hoặc không có uỷ quyền bằng văn bản;

-  Kiểm đếm ngoài thời hạn quy định (15 ngày làm việc);

Sau khi đã nhận theo bó tiền đủ 10 thếp nguyên niêm phong, túi tiền nguyên niêm phong từ NHNN, TCTD khác; Đơn vị nhận tiền chấp thuận không kiểm đếm tờ (miếng) thì phải xé bỏ ngay niêm phong bó (túi) tiền.

1.9. Xử lý kết quả kiểm đếm:

Bó (túi) tiền không thừa, thiếu, lẫn loại (gây ra thừa hoặc thiếu tiền) thì huỷ ngay giấy niêm phong; đóng gói, dán niêm phong mới.

Người kiểm đếm phát hiện bó (túi) tiền có phát sinh thừa, hoặc thiếu, lẫn loại, có tiền giả…thì báo cáo Hội đồng kiểm đếm và người chứng kiến (nếu có) để kiểm tra lại; khi Hội đồng kiểm đếm đã xác định đúng sự sai sót thì người kiểm đếm ghi ở mặt sau của tờ niêm phong về các yếu tố: ngày, tháng, năm kiểm đếm, kết quả kiểm đếm bó (túi) tiền thừa hay thiếu (số tờ, miếng, thành tiền), kể cả trường hợp lẫn loại dẫn đến thiếu hoặc thừa tiền và ký tên xác nhận, đồng thời yêu cầu người chứng kiến (nếu có) ký tên, sau đó nộp cho Hội đồng kiểm đếm để làm căn cứ lập biên bản, ký xác nhận trên biên bản.

Đơn vị kiểm đếm gửi biên bản kèm niêm phong của bó (túi) tiền có sai sót đã được Hội đồng kiểm đếm xác nhận cho Đơn vị, TCTD hoặc KBNN giao tiền chịu trách nhiệm thanh toán.

Đơn vị kiểm đếm tiền đã nhận từ NHNN có thể chuyển giấy tờ, giấy niêm phong…có liên quan đến việc xử lý thừa thiếu về NHNN chi nhánh.

2. Giao nhận tiền mặt trong nội bộ NHPT:

2.1. Việc giao nhận tiền mặt giữa các Đơn vị trong hệ thống NHPT thực hiện việc kiểm đếm theo bó đủ mười thếp nguyên niêm phong (đối với tiền giấy), hoặc theo túi đủ 1.000 (một nghìn) miếng nguyên niêm phong (đối với tiền kim loại); đối với số thếp lẻ, tờ, miếng lẻ thực hiện việc kiểm đếm, giao nhận từng tờ, miếng. Không thực hiện giao nhận theo túi, hòm, thùng nguyên niêm phong. Trường hợp cần kiểm đếm tờ, miếng, Đơn vị bên nhận thành lập Hội đồng kiểm đếm và thực hiện nhiệm vụ kiểm đếm theo các nội dung đã hướng dẫn tại khoản 1 nêu trên.

2.2. Tại các Đơn vị có tồn quỹ cuối ngày vượt so với hạn mức quy định mà không có kho, hoặc kho không đảm bảo an toàn thì Đơn vị ký hợp đồng với Ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn để gửi tiền qua đêm.

2.3. Việc giao nhận tiền mặt giữa dây thu, dây chi quỹ nghiệp vụ phải thông qua Thủ kho tiền; Phải mở sổ, ghi chép và ký nhận đầy đủ theo từng lần giao nhận vào sổ giao nhận.

Dây thu trực tiếp giao tiền thu được (đã được kiểm đếm, đóng gói, niêm phong theo quy định) cho Thủ kho tiền từng lần trong ngày và cuối ngày.

Dây chi trực tiếp nhận tiền từ Thủ kho tiền để chi cho khách hàng trong ngày.

Mỗi dây thu, dây chi bố trí một Thủ quỹ. Dây thu không được giao tiền trực tiếp cho dây chi.

2.4. Giao dịch một cửa, Giao dịch viên (teller) thực hiện theo quy trình giao dịch một cửa do Tổng Giám đốc NHPT quy định riêng và theo quy định này.