vanban.org

Điều 7. Nguyên tắc cấp và ghi tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận — Quyết định 25/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Cà Mau Ban hành 29/06/2007 Hiệu lực 09/07/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 25/2007/QĐ-UBND › Chương I › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Nguyên tắc cấp và ghi tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận

1. Giấy chứng nhận được cấp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân có nhà ở, công trình xây dựng được tạo lập hợp pháp. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải thuộc diện được sở hữu nhà ở, công trình xây dựng tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

a) Trường hợp tổ chức, cá nhân tạo lập nhà ở hợp pháp trên thửa đất ở mà tổ chức, cá nhân đó được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng theo quy định pháp luật về đất đai và trường hợp chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

b) Tổ chức, cá nhân tạo lập nhà ở hợp pháp trên thửa đất ở do thuê, mượn của các chủ sử dụng đất khác (chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở) thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

c) Tổ chức, cá nhân tạo lập công trình xây dựng hợp pháp trên thửa đất được phép xây dựng công trình có nguồn gốc do Nhà nước giao, cho thuê, được công nhận quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuê, mượn của chủ sử dụng là đất khác thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao thuộc quyền sử dụng của cá nhân trong nước mà có toàn bộ hoặc một phần nhà ở, công trình xây dựng được tạo lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Xây dựng có hiệu lực thi hành) trên diện tích đất vườn, ao chưa được công nhận là đất ở, thì căn cứ vào sự phù hợp quy hoạch của nhà ở, công trình xây dựng đã tồn tại để xem xét cấp Giấy chứng nhận:

Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng phù hợp quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện công nhận hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất vườn, ao sang đất ở theo quy định pháp luật về đất đai cùng lúc với việc cấp Giấy chứng nhận theo Quy định này.

3. Nhà ở, công trình được xây dựng sai phép, không phép trước ngày 01 tháng

7 năm 2004 mà có một phần diện tích vi phạm xây dựng (trừ trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 5 của Quy định này), thì căn cứ các quy định tại Quyết định số 39/2005/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Điều 121 của Luật Xây dựng (gọi tắt là Quyết định 39/2005/QĐ-TTg) để xác định việc đủ điều kiện cho phép tồn tại đối với diện tích vi phạm xây dựng và thực hiện cấp Giấy chứng nhận theo Quy định này.

4. Nhà ở, công trình được xây dựng không phép, sai phép từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 về sau mà có diện tích vi phạm xây dựng thì phải chờ Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét và xử lý theo văn bản riêng trước khi cấp Giấy chứng nhận.

5. Cấp Giấy chứng nhận cho nhà ở, công trình xây dựng ven sông, kênh rạch. a) Nhà ở, công trình xây dựng thuộc khu vực ven sông, kênh rạch đã được cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền bán theo quy định (hóa giá hoặc bán đấu giá) hoặc

thuộc khu vực đã có quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt cho phép tồn tại và quy mô, diện tích xây dựng nhà ở, công trình đó phù hợp với quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận theo Quy định này. Thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận là thời hạn sử dụng đất ven sông, kênh rạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.

b) Nhà ở, công trình xây dựng ven sông, kênh rạch không thuộc trường hợp nêu tại điểm a khoản 5 Điều này thì chưa được xét cấp Giấy chứng nhận.

6. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp (vừa sử dụng để ở và sử dụng vào các mục đích khác không phải để ở) được thực hiện theo quy định tại khoản 5 mục I phần 1 Thông tư 05/2006/TT-BXD ngày 01 tháng

11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của

7. Việc ghi tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thực hiện theo Điều 12 Luật Nhà ở, khoản 3 Điều 45 Nghị định 90/2006/NĐ-CP, mục I, mục IV và mục V phần 1 Thông tư 05/2006/TT-BXD; ghi tên chủ sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thực hiện theo Điều 5 Nghị định

a) Không ghi tên chủ sở hữu là người đã chết trong Giấy chứng nhận, trừ trường hợp chủ sở hữu chết sau thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

b) Trường hợp có chủ sở hữu chung đã chết trước khi nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận thì phải giải quyết thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự, sau đó mới nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận;

c) Trường hợp có phát sinh thừa kế mà nhà ở, công trình xây dựng chưa có giấy tờ hợp lệ để lập các thủ tục về xác định người được thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự, chưa xác định được đầy đủ người đồng thừa kế thì ghi tên người đại diện khai trình (người đại diện khai trình phải là một trong những người được thừa kế nhà ở, công trình xây dựng đó), đồng thời trên Giấy chứng nhận phải ghi chú nội dung: “Nhà đất chưa phân chia thừa kế, không được thực hiện các giao dịch”.

8. Cơ quan có thẩm quyền ký Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 10 của Quy định này, phải ban hành quyết định cấp Giấy chứng nhận khi thực hiện cấp Giấy chứng nhận lần đầu (cấp mới).