Điều 14. Giấy tờ về công trình xây dựng do cá nhân trong nước tạo lập trước ngày Nghị định 95/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 11 tháng 8 năm 2005) làm cơ sở pháp lý để cấp Giấy chứng nhận
Cá nhân trong nước có công trình xây dựng được tạo lập trước ngày 11 tháng
8 năm 2005 khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng phải có một trong các loại giấy tờ hợp lệ theo quy định sau:
1. Giấy tờ hợp lệ ghi tên của cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận được cấp trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 và nhà đất đó phải không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của Nghị quyết 23/2003/QH11, Nghị quyết
755/2005/NQ-UBTVQH11, gồm có:
a) Bằng khoán đất có ghi nhận công trình xây dựng;
b) Giấy tờ mua bán, nhận tặng cho, đổi, thỏa thuận tương phân di sản, khai nhận thừa kế, văn bản xác nhận quyền sở hữu về công trình xây dựng, văn tự đoạn mãi bất động sản (nhà, đất) được chính quyền chế độ cũ chứng nhận (đã hoặc chưa trước bạ);
c) Giấy phép cho xây cất công trình hoặc Giấy phép hợp thức hóa kiến trúc do chính quyền chế độ cũ cấp;
d) Bản án của Tòa án đã có hiệu lực thi hành;
đ) Các loại giấy tờ khác chứng minh việc tạo lập công trình xây dựng.
2. Giấy tờ hợp lệ ghi tên của cá nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận, được cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc chứng nhận sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, gồm có:
a) Giấy chứng nhận sang tên trong các trường hợp: mua bán, đổi, tặng cho, nhận thừa kế hoặc ủy quyền sở hữu công trình xây dựng được Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp huyện chứng nhận quyền sở hữu cho bên nhận công trình;
b) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do Sở Xây dựng Minh Hải, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh cấp;
c) Giấy phép xây dựng, sửa chữa công trình xây dựng được Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định pháp luật và kèm theo các giấy tờ hợp lệ về quyền sở hữu công trình cũ hoặc quyền sử dụng đất thuộc công trình được cấp phép xây dựng, sửa chữa (nếu có) Trường hợp công trình được xây dựng từ ngày 01/7/2004 về sau thì phải kèm theo bản vẽ hoàn công và biên bản kiểm tra hoàn thành công trình do cơ quan cấp Giấy phép xây dựng ban hành;
d) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định tại Nghị định
181/2004/NĐ-CP mà trên Giấy chứng nhận có ghi nhận về quyền sở hữu công trình xây dựng có trên thửa đất theo quy định tại điểm c khoản 5 mục III Thông tư
01/2005/TT-BTNMT; các trường hợp tạo lập hợp pháp công trình xây dựng trên đất đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được phép sử dụng với mục đích xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về đất đai;
đ) Các giấy tờ về thanh lý công trình thuộc sở hữu nhà nước của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật;
e) Di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản là công trình xây dựng, giấy tờ mua bán, nhận tặng cho, hoán đổi công trình xây dựng thuộc sở hữu tư nhân được công chứng, chứng thực hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng nhận (kể cả chưa nộp trước bạ) và kèm theo các giấy tờ về nhà, đất của chủ cũ (nếu có);
g) Quyết định, bản án của Tòa án hoặc giấy tờ của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền về việc giải quyết vấn đề quyền sở hữu công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật và kèm theo giấy tờ về nhà, đất của chủ sở hữu cũ (nếu có).
3. Trường hợp có giấy tờ hợp lệ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này, nhưng người đề nghị cấp Giấy chứng nhận không đứng tên trong các loại giấy tờ đó, thì phải kèm thêm giấy tờ liên quan đến các giao dịch như: mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế... công trình xây dựng được Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên xác nhận hoặc trong Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đối tượng đề nghị cấp Giấy chứng nhận đã tạo lập công trình xây dựng thông qua các giao dịch như đã nêu trên.
4. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận không có một trong những giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này thì Đơn đề nghị cấp
giấy chứng nhận phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng công trình, đất xây dựng công trình không có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và được xây dựng trước khi có quy hoạch xây dựng đối với trường hợp đã có quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn hoặc phù hợp quy hoạch đối với trường hợp công trình được xây dựng sau khi có quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Điều 15. Giấy tờ hợp pháp về công trình xây dựng do cá nhân trong nước tạo lập từ ngày Nghị định 95/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành về sau (ngày 11 tháng 8 năm 2005) làm cơ sở pháp lý để cấp Giấy chứng nhận
Cá nhân trong nước có công trình được tạo lập từ ngày 11 tháng 8 năm
2005 về sau (ngày Nghị định 95/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành), khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình, phải có một trong các giấy tờ theo quy định sau:
1. Công trình được tạo lập thông qua việc xây dựng mới thì phải có giấy phép xây dựng (trừ trường hợp được miễn giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai. Riêng công trình được xây dựng từ ngày 01/7/2004 về sau thì giấy phép xây dựng phải kèm theo biên bản và bản vẽ hoàn công do cơ quan có chức năng ban hành.
2. Công trình được tạo lập thông qua hình thức giao dịch dân sự (mua, nhận tặng cho, hoán đổi, nhận thừa kế...) hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có Hợp đồng hoặc văn bản về giao dịch đó đã được cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật, đồng thời phải kèm theo giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng của bên chuyển quyền và giấy tờ thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có).