vanban.org

Điều 30. Tổ chức quản lý dự án — Quyết định 08/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 23/04/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 23/04/2022 Thay thế: 11/2022/QĐ-UBND · 12/04/2022
Vĩnh Phúc Ban hành 14/03/2017 Hiệu lực 24/03/2017 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 11/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy định thực hiện trình tự, thủ tục đầu tư các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc · 11/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND V/v ban hành Quy định thực hiện trình tự, thủ tục thực hiện các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc · 08/2017/QĐ-UBND
23/04/202211/2022/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 24/03/2017Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 08/2017/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 30
Đọc toàn văn

Điều 30. Tổ chức quản lý dự án

1. Đối với dự án không có cấu phần xây dựng:

a) Căn cứ quy mô, tính chất và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án gồm: Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án; chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án;

b) Chủ đầu tư được phép trực tiếp quản lý thực hiện dự án khi có đủ năng lực. Các cá nhân tham gia quản lý dự án phải có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với công việc đảm nhận. Trong trường hợp này, chủ đầu tư thành lập ban quản lý dự án để giúp mình quản lý dự án. Chủ đầu tư có trách nhiệm quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức hoạt động của ban quản lý dự án. Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình;

Trường hợp chủ đầu tư không phải là đơn vị quản lý, sử dụng sản phẩm đầu tư của dự án thì đơn vị quản lý, sử dụng sản phẩm đầu tư của dự án có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư để quản lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư, tiếp nhận quản lý, đưa vào khai thác dự án. Người do đơn vị quản lý, sử dụng sản phẩm đầu tư của dự án cử tham gia vào ban quản lý dự án được bổ nhiệm làm phó giám đốc hoặc phó trưởng ban quản lý dự án;

c) Trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc quản lý dự án đầu tư thì được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thực hiện. tổ chức tư vấn quản lý dự án có thể đảm nhận thực hiện một phần hoặc toàn bộ các nội dung quản lý dự án theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư. Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa hai bên. tổ chức tư vấn quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong quá trình quản lý dự án.

2. Đối với dự án có cấu phần xây dựng:

a) Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo Điều 63 của Luật Xây dựng và Điều 17 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP đối với các dự án do mình làm chủ đầu tư. Trường hợp chủ đầu tư dự án không phải là Ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án khu vực thì người quyết định đầu tư giao chủ đầu tư có trách nhiệm ký hợp đồng ủy thác quản lý dự án đối với Ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc Ban quản lý dự án khu vực để thực hiện quản lý dự án theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng;

Trường hợp Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực không đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc quản lý dự án đầu tư xây dựng thì được phép thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thực hiện theo quy định tại Điều 20 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP;

b) Đối với dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp công trình xây dựng quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 5 (năm) tỷ đồng, dự án có sự tham gia của cộng đồng và dự án có tổng mức đầu tư dưới 2 (hai) tỷ đồng do Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ đầu tư thì chủ đầu tư được phép sử dụng tư cách pháp nhân của mình và bộ máy chuyên môn trực thuộc để trực tiếp quản lý theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP.