Điều 13. Thẩm quyền thu hồi tài sản Nhà nước
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thu hồi tài sản thuộc phạm vi quản lý của địa phương:
a) Thu hồi tài sản Nhà nước của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý theo thẩm quyền đối với tài sản là: đất đai; nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai; xe ôtô, xe chuyên dùng, phương tiện vận tải các loại; các tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) trở lên/1 đơn vị tài sản của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh quản lý và của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cấp huyện, thành phố, quản lý theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, trên cơ sở đề xuất của Giám đốc Sở Tài chính;
b) Kiến nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan Trung ương quyết định thu hồi theo thẩm quyền trong trường hợp phát hiện tài sản Nhà nước của cơ quan Nhà nước thuộc Trung ương quản lý đặt tại địa phương sử dụng sai mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ do Nhà nước quy định, cho thuê hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.
2. Giám đốc các sở, ban, ngành, cơ quan, đoàn thể thuộc cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố quyết định thu hồi các tài sản có nguyên giá trên sổ sách kế toán dưới 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)/1 đơn vị tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình (trừ những tài sản quy định tại khoản 1 Điều này).
3. Thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất được giao để thực hiện dự án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc mà tiến độ sử dụng đất bị chậm phải thu hồi thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.