Điều 21. Hệ quy chiếu
1. Hệ quy chiếu ngang
a) Hệ trắc địa toàn cầu (WGS-84) phải được sử dụng làm hệ quy chiếu (trắc địa) ngang. Tọa độ địa lý hàng không được công bố (chỉ ra vĩ độ và kinh độ) phải được thể hiện theo hệ quy chiếu trắc địa WGS-84.
b) Tọa độ địa lý đã được chuyển đổi thành tọa độ WGS-84 nhưng có độ chính xác của công việc ngoại trường ban đầu không đáp ứng các yêu cầu tại Chương 2 của Phụ ước 11 và Chương 2 của Phụ ước 14 của ICAO thì phải được chỉ ra bằng dấu hoa thị.
c) Yêu cầu về độ chính xác cho các tọa độ địa lý phải được quy định cho từng loại bản đồ, sơ đồ hàng không cụ thể và phù hợp với Bảng 1 Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Hệ quy chiếu đứng
a) Mốc quy chiếu mực nước biển trung bình phải được sử dụng làm hệ quy chiếu đứng.
b) Ngoài các mức cao được tham chiếu đến mực nước biển trung bình, các vị trí trên mặt đất được khảo sát cụ thể, bề mặt của thể địa cầu (bề mặt trái đất) (được tham chiếu tới ellipsoid WGS-84) cho những vị trí này cũng phải được công bố theo như quy định cho một bản đồ, sơ đồ hàng không cụ thể.
c) Yêu cầu độ chính xác về mức cao và độ mấp mô của thể địa cầu (bề mặt trái đất) của bản đồ, sơ đồ hàng không phải theo đúng quy định cụ thể và phù hợp với Bảng 2, Phụ lục V ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Hệ tham chiếu thời gian
a) Lịch dương và giờ quốc tế (UTC) phải được sử dụng làm hệ tham chiếu thời gian.
b) Khi sử dụng một hệ tham chiếu thời gian khác cho việc thiết lập bản đồ, sơ đồ hàng không phải được chỉ rõ tại AIP Việt Nam.