Điều 22. Trình tự thu hồi đất đối với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại khoản 1, 2 Điều 36 của Nghị định 224/2004/CP và khoản 3 Điều 2 Nghị định 17/2006/CP
1. Trách nhiệm lập hồ sơ thu hồi đất:
Sau khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được duyệt hoặc có Thông báo cho phép chủ trương đầu tư và thoả thuận địa điểm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Trung tâm phát triển quỹ đất (đối với nơi sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư) hoặc Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng của UBND các huyện, thành phố (đối với nơi thực hiện dự án đầu tư đã được duyệt) (sau đây gọi tắt là Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng) có trách nhiệm lập hồ sơ thu hồi đất.
2. Hồ sơ thu hồi đất được lập thành 2 bộ, gồm các giấy tờ sau:
a) Quyết định phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp có thẩm quyền hoặc quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng đô thị, xây dựng điểm khu dân cư nông thôn hoặc thông báo thoả thuận địa điểm thực hiện dự án có kèm theo bản đồ hoặc sơ đồ quy hoạch.
b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất đối với chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính;
c) Quyết định phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư của UBND Tỉnh;
d) Thông báo thu hồi đất của UBND huyện nơi có đất bị thu hồi;
đ) Tờ trình đề nghị thu hồi đất của Trung tâm phát triển quỹ đất hoặc của UBND huyện, thành phố.
3. Nơi nộp hồ sơ: Tại Sở Tài nguyên và Môi trường
4. Trình tự thực hiện thu hồi đất
a) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính:
Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc Thông báo thoả thuận địa điểm, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cùng cấp thực hiện chỉnh lý bản đồ địa chính cho phù hợp hiện trạng và trích lục bản đồ địa chính đối với những nơi đã có bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính đối với nơi chưa có bản đồ địa chính, trích sao hồ sơ địa chính (sổ địa chính, sổ mục kê), thống kê các thửa đất bị thu hồi theo từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất để gửi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
b) Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng:
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây gọi là phương án tổng thể) trên cơ sở số liệu, tài liệu hiện có và nộp một (01) bộ tại Sở Tài chính hoặc phòng Tài chính (gọi chung là cơ quan Tài chính) để thẩm định. Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được phương án tổng thể, cơ quan Tài chính có trách nhiệm thẩm định phương án và trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp xét duyệt. Trong thời hạn không quá bảy (07) ngày kể từ ngày nhận được tờ trình của cơ quan Tài chính, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, ký quyết định xét duyệt phương án tổng thể. Thẩm quyền phê duyệt phương án tổng thể quy định tại Điều 13 Quyết định 1617/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Yên
Nội dung phương án tổng thể có các nội dung chính sau: Các căn cứ để lập phương án; số liệu tổng hợp về diện tích các loại đất, số tờ bản đồ, số thửa; giá trị ước tính của tài sản hiện có trên đất; số hộ, số nhân khẩu, số lao động trong khu vực thu hồi đất, trong đó nêu rõ số lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp, số hộ phải tái định cư; dự kiến mức bồi thường, hỗ trợ và dự kiến địa điểm, diện tích đất khu vực tái định cư hoặc nhà ở tái định cư; dự kiến biện pháp trợ giúp gải quyết việc làm và kế hoạch đào tạo chuyển đổi ngành nghề; dự toán kinh phí thực hiện phương án; nguồn kinh phí thực hiện phương án; tiến độ thực hiện phương án.
c) Thông báo cho người đang sử dụng đất biết khu đất sẽ bị thu hồi:
Sau khi phương án tổng thể được xét duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thông báo cho người đang sử dụng đất biết trước ít nhất chín mươi (90) ngày đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp và một trăm tám mươi (180) ngày đối với trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp cho người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.
d) Quyết định thu hồi đất
Trước khi hết thời gian thông báo ít nhất là hai mươi (20) ngày, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình Uỷ ban nhân dân tỉnh về quyết định thu hồi đất.
Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình, Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xem xét, ký và gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất. Quyết định thu hồi đất phải bao gồm nội dung thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng và nội dung thu hồi đất chung cho tất cả các diện tích đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.
Trường hợp trên khu đất thu hồi có diện tích đất do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định về thu hồi đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.
e) Lập, thẩm định và xét duyệt phương án chi tiết bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư
Sau khi có quyết định thu hồi đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, giải phóng mặt bằng. Nội phương phương án chi tiết được lập theo quy định tại Nghị định 197/2004/CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP và Thông tư 116/2004/TT-BTC .
Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình, Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, ký và gửi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quyết định xét duyệt phương án chi tiết bồi thường, giải phóng mặt bằng.
f) Thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng
Trung tâm phát triển quỹ đất có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với trường hợp thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư; Ủy ban nhân dân huyện, thành phố có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với trường hợp thu hồi đất để giao hoặc cho thuê thực hiện dự án đầu tư.
5. Sau khi hoàn thành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao đất cho Trung tâm phát triển quỹ đất để quản lý hoặc giao đất, cho thuê đất cho nhà đầu tư để thực hiện dự án.