Điều 12. Trình tự thủ tục thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện như sau:
1. Xác định và công bố chủ trương thu hồi đất:
a) Xác định chủ trương thu hồi đất:
Trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch: UBND cấp huyện, tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt xác định chủ trương thu hồi đất theo quy hoạch trình UBND cùng cấp ra văn bản về chủ trương thu hồi đất theo thẩm quyền.
Trường hợp thu hồi đất theo dự án đầu tư: Chủ đầu tư liên hệ với Sở Kế hoạch và Đầu tư; trường hợp là dự án xây dựng cơ sở tôn giáo thì liên hệ với Sở Nội vụ.
Các cơ quan nói trên căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của dự án, xác định và trình UBND tỉnh ra văn bản chấp thuận địa điểm đầu tư.
b) Công bố chủ trương thu hồi đất:
Sau khi có văn bản về chủ trương thu hồi đất hoặc văn bản chấp thuận địa điểm đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 điều này của UBND cấp thẩm quyền, UBND cấp huyện nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm chỉ đạo phổ biến rộng rãi chủ trương thu hồi đất, các quy định về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm niêm yết công khai chủ trương thu hồi đất tại trụ sở UBND cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi, thông báo rộng rãi trên hệ thống đài truyền thanh cấp xã (ở những nơi có hệ thống truyền thanh).
Trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án, chủ đẩu tư có trách nhiệm liên hệ với UBND cấp huyện để được thực hiện việc công bố chủ trương thu hồi đất.
2. Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi:
a) Căn cứ vào văn bản của UBND nêu tại khoản 1 điều này, cơ quan Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng (ĐKQSD) đất cùng cấp thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi theo quy định: Chỉnh lý bản đồ địa chính cho phù hợp với hiện trạng và làm trích lục bản đồ địa chính đối với những nơi đã có bản đồ địa chính chính quy hoặc trích đo địa chính đối với nơi chưa có bản đồ địa chính chính quy; hoàn chỉnh và trích sao hồ sơ địa chính (sổ địa chính) để gửi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; lập danh sách các thửa đất bị thu hồi với các nội dung: số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, tên người sử dụng đất, diện tích của phần thửa đất có cùng mục đích sử dụng, mục đích sử dụng đất.
Trường hợp đơn vị chuẩn bị hồ sơ địa chính không phải là Văn phòng ĐKQSD đất thì phải trực tiếp liên hệ với cơ quan Tài nguyên và Môi trường để được chỉ đạo thực hiện.
Trường hợp khu đất phải trích đo địa chính thì UBND cấp huyện nơi có đất bị thu hồi thông báo bằng văn bản cho người sử dụng đất thuộc khu vực phải thu hồi đất về việc đo địa chính. Người sử dụng đất có trách nhiệm chấp hành, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đạc xác định hiện trạng thửa đất.
b) Trường hợp thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư, Chủ đầu tư liên hệ với cơ quan Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp huyện để được thực hiện các công việc nêu tại điểm a khoản này.
c) Kinh phí chi cho việc chỉnh lý bản đồ địa chính, trích lục bản đồ địa chính, trích đo địa chính, trích sao hồ sơ địa chính do chủ đầu tư dự án chi trả đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án, do Tổ chức phát triển quỹ đất chi trả đối với trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch.
3. Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng (có sự tham gia của đại diện chủ đầu tư) lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (sau đây gọi là phương án tổng thể) trên cơ sở số liệu, tài liệu hiện có do cơ quan Tài nguyên và Môi trường cung cấp và nộp 01 (một) bộ tại Sở Tài chính hoặc Phòng Tài chính (gọi chung là cơ quan Tài chính) để thẩm định. Phương án tổng thể có các nội dung chính quy định tại khoản 1 Điều 51 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
b) Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phương án tổng thể, cơ quan Tài chính chủ trì phối hợp với cơ quan Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan có liên quan tiến hành thẩm định phương án và trình UBND cùng cấp xét duyệt.
c) Trong thời hạn không quá bảy (07) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tờ trình của cơ quan Tài chính, UBND đã có chủ trương thu hồi đất hoặc chấp thuận về địa điểm đầu tư có trách nhiệm xem xét, ký quyết định xét duyệt phương án tổng thể.
4. Thông báo về việc thu hồi đất
Sau khi phương án tổng thể được xét duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người đang sử dụng đất biết lý do thu hồi đất; dự kiến về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; biện pháp chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm; thời gian di chuyển và bàn giao đất bị thu hồi được nêu trong phương án tổng thể.
5. Ban hành quyết định thu hồi đất
a) Chủ đầu tư trong trường hợp đã có dự án đầu tư; Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc tổ chức phát triển quỹ đất trong trường hợp thu hồi đất theo quy hoạch; BQL Đầu tư phát triển đảo Phú Quốc trong trường hợp thu hồi đất tại các khu chức năng giao cho BQL Đầu tư Phát triển đảo Phú Quốc theo Quyết định số 1197/QĐ-TTg, lập 02 (hai) bộ hồ sơ thu hồi đất gồm có:
- Quyết định phê duyệt quy hoạch của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Văn bản về chủ trương thu hồi đất quy định tại khoản 1 điều này.
- Thông báo thu hồi đất quy định tại khoản 4 điều này.
- Quyết định của UBND cấp thẩm quyền phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Trích đo trích lục địa chính phù hợp với hiện trạng thửa đất bị thu hồi; trích sao hồ sơ địa chính thửa đất bị thu hồi.
- Danh sách các thửa đất bị thu hồi với các nội dung: số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, tên và địa chỉ người sử dụng đất, mục đích sử dụng đất.
Hồ sơ được nộp tại Tổ nhận và trả kết quả ở Sở Tài nguyên và Môi trường trong trường hợp khu đất thu hồi có cả đất của các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Hồ sơ nộp cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện trong trường hợp khu đất thu hồi chỉ có hộ gia đình, cá nhân sử dụng.
b) Sau hai mươi (20) ngày làm việc, kể từ ngày thông báo quy định tại khoản 5 điều này và nhận đủ hồ sơ hợp lệ cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trình UBND cùng cấp quyết định thu hồi đất.
c) Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tờ trình của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp, UBND cùng cấp có trách nhiệm xem xét, ký quyết định thu hồi đất;
d) Trường hợp khu đất bị thu hồi vừa có thửa đất thuộc thẩm quyền thu hồi của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, vừa có thửa đất thuộc thẩm quyền thu hồi của UBND cấp huyện thì UBND cấp tỉnh ra quyết định thu hồi chung đối với toàn bộ các thửa đất trên khu đất và ra quyết định thu hồi đối với từng thửa đất thuộc thẩm quyền thu hồi của cấp mình;
Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi chung của UBND cấp tỉnh quy định tại điểm d khoản này, UBND cấp huyện quyết định thu hồi từng thửa đất thuộc thẩm quyền thu hồi của cấp mình.
đ) Quyết định thu hồi đất phải được gửi đến người có đất bị thu hồi và được niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi trong suốt thời gian kể từ ngày UBND cấp xã nhận được quyết định đến thời điểm kết thúc việc thu hồi.
6. Lập, thẩm định, xét duyệt và công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai
Sau khi có quyết định thu hồi đất, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thực hiện việc kê khai, kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất và xác định nguồn gốc đất đai theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 56 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.
b) Lập, thẩm định, xét duyệt và công khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Việc lập, thẩm định, xét duyệt và công khai phương án bồi thường , hỗ trợ và tái định cư được thực hiện theo Điều 56, Điều 57 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Trong đó:
- Trong thời hạn không quá bốn mươi (40) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thành việc đo đạc, kiểm đếm, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
- Niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và tại các điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi để người bị thu hồi đất và những người có liên quan tham gia ý kiến; thời gian niêm yết và tiếp nhận ý kiến đóng góp ít nhất là hai mươi (20) ngày làm việc, kể từ ngày đưa ra niêm yết.
- Trong thời hạn không quá mười lăm (15) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cơ quan Tài chính có trách nhiệm thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt;
- Trong thời hạn không quá mười lăm (10) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Tờ trình của cơ quan Tài chính, UBND cùng cấp xem xét, quyết định phê duyệt phương án bồi thường.
- Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi.
7. Thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư và bàn giao đất đất bị thu hồi:
a) Sau năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày gửi văn bản thông báo về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến người có đất bị thu hồi, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Điều 58 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP .
b) Trong thời hạn hai mươi (20) ngày làm việc, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.