Điều 4. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh, có trách nhiệm giải quyết công việc được quy định tại Điều 126, Điều 127 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Quyết định số: 564/QĐ-UBND, ngày 30/3/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phân công nhiệm vụ thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh và những vấn đề khác được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo giải quyết hoặc giao Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể thành lập các tổ chức tư vấn để giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết công việc.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh uỷ quyền cho một Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo và giải quyết công việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh khi Chủ tịch đi vắng. Khi một Phó Chủ tịch đi vắng, Chủ tịch trực tiếp giải quyết hoặc phân công Phó Chủ tịch khác giải quyết công việc thay Phó Chủ tịch đi vắng. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh thông báo kịp thời các nội dung uỷ quyền và kết quả giải quyết công việc cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch đi vắng biết.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có thể điều chỉnh việc phân công giữa các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh, khi thấy cần thiết.