Điều 13. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất nông nghiệp
1. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi, thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch đó. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi, thì được bồi thường bằng việc giao đất mới với diện tích tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định như sau:
a) Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ bằng tiền là 40% giá đất nông nghiệp cùng loại (giá đất theo quy định tại Điều 8 của Quy định này) theo diện tích thực tế thu hồi nhưng tối đa không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định.
Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất của nông lâm trường quốc doanh nhưng không thuộc đối tượng nêu trên, và phần diện tích vượt hạn mức giao đất nông nghiệp (nếu có) thì không được hỗ trợ mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất của Hợp tác xã nông nghiệp mà nguồn gốc là đất do Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, sau đó giao cho xã viên nhận khoán và nộp quỹ khoán sản phẩm thì khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất, mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) nếu tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Trong trường hợp này nếu khi thu hồi đất mà đời sống của các xã viên gặp khó khăn, thì thực hiện theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
c) Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.
3. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì người đang sử dụng không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
4. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường về đất. Trường hợp chưa giao đất sử dụng ổn định lâu dài thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
5. Đối với diện tích đất đang sử dụng để sản xuất nông nghiệp nhưng thuộc đất lâm nghiệp khi phân định ranh giới nông lâm (không thuộc trường hợp được nhận giao khoán đất tại khoản 2 nêu trên):
a) Diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có Quyết định cấp đất sản xuất nông nghiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: Bồi thường 100% giá đất nông nghiệp;
b) Diện tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Quyết định cấp đất sản xuất nông nghiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
- Đối với diện tích đất được khai phá, sử dụng trước khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm, không có nguồn gốc là đất lâm nghiệp, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: Bồi thường 100% giá đất nông nghiệp;
- Đối với diện tích được khai phá, sử dụng trước khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm, nhưng có nguồn gốc là đất lâm nghiệp, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: Hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp (đối với diện tích sử dụng trước thời điểm 15/10/1993), hỗ trợ 30% giá đất nông nghiệp (đối với diện tích sử dụng sau thời điểm 15/10/1993);
- Đối với diện tích đất khai phá sau khi Nhà nước công bố ranh giới phân định nông lâm; và diện tích đất khai phá, sử dụng, sang nhượng có nguồn gốc là do hành vi lấn chiếm, khai phá, sang nhượng đất rừng (đất lâm nghiệp) trái phép (kể cả đối với diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận): Không bồi thường, hỗ trợ.
6. Quy định mức hỗ trợ đối với một số trường hợp có diện tích đất thu hồi không hội đủ điều kiện được bồi thường về đất hoặc hỗ trợ về đất theo quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 13 trên đây:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh thực sự khó khăn (người già cô đơn không nơi nương tựa; hộ gia đình, cá nhân có người mắc phải các căn bệnh nan y, di chứng của chiến tranh để lại; hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đói nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp) được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: Hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp.
c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân tự khai thác đất thuộc khuôn viên nhà thuộc sở hữu Nhà nước để sản xuất nông nghiệp; diện tích do tự khai hoang không theo quy hoạch được phê duyệt; diện tích vi phạm hành lang bảo vệ các công trình, diện tích nằm trong lộ giới có nguồn gốc là đất sử dụng, sang nhượng sau khi Nhà nước đã công bố lộ giới mà trong quá trình khai thác, khai hoang, sang nhượng để sử dụng chưa bị các cơ quan chức năng nhắc nhở xử phạt hoặc lập biên bản xử lý vi phạm: Hỗ trợ công khai phá, sang nhượng theo hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh nhưng tối đa không vượt quá 30% giá bồi thường đất nông nghiệp.