Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất ở, đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Diện tích đất ở, đất nông nghiệp được bồi thường căn cứ theo diện tích đất ở, đất nông nghiệp bị thu hồi nhưng phải có đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 7 Quy định này.
2. Trường hợp thu hồi đối với đất sử dụng trước ngày 15/10/1993 nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 7 Quy định này và được UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp (việc xác nhận của UBND cấp xã, thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 7 Quy định này) thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp thửa đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường theo giá đất ở đối với diện tích đất ở (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư;
b) Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi. Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi nhưng diện tích được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương (trường hợp hạn mức giao đất nông nghiệp chưa được quy định thì tính theo hạn mức tối đa quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 69 Nghị định số 224/2004/NĐ-CP);
Trường hợp có diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức mà phần diện tích vượt hạn mức là do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, và không thuộc các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì được bồi thường; các trường hợp khác, diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức chỉ được xem xét bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Quy định này.
d) Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 224/2004/NĐ-CP mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa mà được UBND cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với đất ở theo hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 224/2004/NĐ-CP.
3. Trường hợp thu hồi đối với đất đã sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 7 của Quy định này và được UBND cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp (việc xác nhận của UBND cấp xã, thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 7 của Quy định này) thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:
a) Trường hợp thửa đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường bằng 50% tính theo đơn giá đất ở đối với diện tích đất ở (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; phần diện tích vượt hạn mức đất ở và phần diện tích đất vườn, ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
b) Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 6 Quy định này thì người đang sử dụng thửa đất đó được bồi thường bằng 50% giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng bị thu hồi. Trường hợp trên thửa đất có cả phần diện tích đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phần diện tích đó được bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định đối với đất nông nghiệp;
c) Trường hợp đất đang sử dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp, thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này.
d) Đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau thì người có hành vi lấn, chiếm hoặc được giao đất, thuê đất không đúng thẩm quyền không được bồi thường về đất khi thu hồi đất.
4. Đối với diện tích đất mà các hộ gia đình cá nhân đang sử dụng nằm trong lộ giới bị thu hồi, thực hiện tính toán bồi thường, hỗ trợ như sau:
a) Diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi Nhà nước công bố lộ giới, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì bồi thường 100% giá đất theo mục đích sử dụng ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có nguồn gốc là đất đã sử dụng ổn định từ trước khi Nhà nước công bố lộ giới, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì tùy theo nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất được địa phương xác nhận để tính toán bồi thường. Trường hợp được bồi thường theo giá trị đất ở thì diện tích được bồi thường tối đa (bao gồm cả diện tích đã được cấp quyền sử dụng đất ở hoặc diện tích mà các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng làm đất ở chưa được cấp Giấy chứng nhận) không vượt quá hạn mức đất ở theo quy định; diện tích đất còn lại (nếu có) được bồi thường 100% giá đất nông nghiệp.